Văn hóa

Cỡ chữ
A A
Từ viết tắt Đọc bài viết
× Đọc bài viết Tạm dừng Đọc tiếp Dừng đọc Đang tải...
Vui lòng chờ giây lát
× Bài viết không có file audio
Tương phản

Nghị quyết số 80-NQ/TW: Xác lập vị thế mới của văn hóa

03/02/2026 | 10:50

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước ngoặt khi khẳng định phát triển văn hóa là "nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Đạo diễn, nghệ sĩ đa phương tiện và giám tuyển nghệ thuật NGUYỄN QUỐC HOÀNG ANH nhận định: văn hóa đã được đặt vào trung tâm của câu chuyện phát triển quốc gia.

Quốc gia muốn đi xa không thể chỉ mạnh kinh tế, công nghệ

- Tổng Bí thư Tô Lâm vừa ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Xin anh chia sẻ về ý nghĩa của Nghị quyết đối với sự phát triển văn hóa đất nước?

- Nghị quyết 80 ra đời đúng lúc và đúng chỗ. Đúng lúc, bởi Việt Nam đang bước vào giai đoạn mà tăng trưởng không còn chỉ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ hay mở rộng đầu tư. Đúng chỗ, bởi văn hóa đã được đặt vào trung tâm của câu chuyện phát triển quốc gia, không còn "đứng bên lề" như một lĩnh vực phụ trợ.

Nghị quyết số 80-NQ/TW: Xác lập vị thế mới của văn hóa - Ảnh 1.

Đạo diễn, nghệ sĩ đa phương tiện và giám tuyển nghệ thuật Nguyễn Quốc Hoàng Anh

Điểm quan trọng nhất với tôi không nằm ở các con số 7% hay 9% GDP, mà nằm ở việc lần đầu tiên văn hóa được giao những chỉ tiêu phát triển cụ thể. Khi văn hóa có KPI, nó không còn chỉ là tinh thần, khẩu hiệu hay phong trào. Nó buộc chúng ta phải đặt câu hỏi: ai sản xuất, ai vận hành, ai chịu trách nhiệm về chất lượng, ai sở hữu tài sản trí tuệ, ai tạo ra thương hiệu...?

Nghị quyết 80, theo tôi, là một lời xác nhận rất rõ ràng: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mà là một năng lực cạnh tranh quốc gia. Một quốc gia muốn đi xa không thể chỉ mạnh về kinh tế hay công nghệ, mà phải mạnh cả về hình ảnh, thẩm mỹ và câu chuyện mà mình kể với thế giới.

"Nếu chúng ta thực sự coi văn hóa là một năng lực quốc gia và làm bằng tinh thần chuyên nghiệp, thì những con số về GDP hay thương hiệu quốc gia sẽ không còn là mục tiêu phải chạy theo, mà sẽ trở thành kết quả tự nhiên. Văn hóa, sau cùng, không phải để trang trí cho sự phát triển, mà để định hình bản sắc của sự phát triển ấy".

Đạo diễn, giám tuyển nghệ thuật Nguyễn Quốc Hoàng Anh

Nghị quyết đặt ra chỉ tiêu đến năm 2030 hình thành 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, xây dựng 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế… Tôi kỳ vọng đây sẽ là cú chuyển từ tư duy phong trào sang tư duy nghề nghiệp. Một liên hoan nghệ thuật quốc tế không chỉ là sự kiện đông người, mà là một ngành công nghiệp trải nghiệm, đòi hỏi tiêu chuẩn sản xuất, tiêu chuẩn nghệ thuật, tiêu chuẩn tổ chức và một bản sắc thẩm mỹ rất rõ ràng. Nếu làm được điều đó, các không gian văn hóa của Việt Nam sẽ trở thành nơi thế giới tìm đến để gặp Việt Nam, chứ không chỉ để xem Việt Nam.

- Anh kỳ vọng ra sao từ việc đặt văn hóa vào trung tâm của câu chuyện phát triển quốc gia?

- Cú hích lớn nhất không nằm ở quy mô ngân sách, mà là thay đổi cách nhìn. Chúng ta cần chuyển từ tư duy giữ gìn văn hóa sang tư duy tạo sinh văn hóa. Nghĩa là không chỉ bảo tồn cái đã có, mà phải tạo điều kiện để văn hóa liên tục sinh ra tác phẩm mới, nghệ sĩ mới, nhà sản xuất mới, không gian mới và thị trường mới.

Văn hóa chỉ thực sự sống khi nó hiện diện trong đời sống thường ngày: khi trẻ em có cơ hội học nghệ thuật, khi người dân có không gian thưởng thức, khi nghệ sĩ có thể sống bằng nghề, khi tác phẩm có con đường đi ra thế giới. Nếu Nghị quyết 80 giúp thiết lập được những điều đó, thì cú hích đã thực sự xảy ra.

Nghị quyết số 80-NQ/TW: Xác lập vị thế mới của văn hóa - Ảnh 2.

Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định phát huy tối đa giá trị và sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Ảnh: VN+

Chuyển hóa di sản thành trải nghiệm, tài sản

- Cùng với những mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể trong Nghị quyết 80, dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng có đề cập đến mô hình tăng trưởng mới dựa trên "công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản". Anh nhận định ra sao về tiềm năng này của Việt Nam?

- Tôi đặc biệt chú ý đến khái niệm kinh tế di sản. Nó cho thấy tư duy đã trưởng thành hơn rất nhiều. Di sản không chỉ để trưng bày, mà là tài nguyên sống, có thể tạo ra việc làm, thu nhập, niềm tự hào và năng lực địa phương.

Tuy nhiên, kinh tế di sản không thể chỉ dừng ở bán vé, quà lưu niệm hay phục dựng minh họa. Di sản chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi được chuyển hóa thành tri thức, thành ngôn ngữ thẩm mỹ, thành trải nghiệm văn hóa và tài sản trí tuệ.

Nếu làm được như vậy, kinh tế di sản không chỉ nâng cao đời sống vật chất, mà còn nâng cao đời sống tinh thần. Người dân không chỉ sống cạnh di sản, mà sống cùng di sản, hiểu di sản và tự hào về di sản.

Về vị thế quốc tế, tôi tin Việt Nam đang có một cơ hội rất đặc biệt. Thế giới đang “mệt” với những câu chuyện giống nhau. Họ tìm kiếm những nền thẩm mỹ khác, những cảm thức khác, những hệ giá trị khác. Việt Nam, nếu kể được câu chuyện của mình bằng ngôn ngữ đương đại nhưng vẫn giữ được gốc, hoàn toàn có thể tạo dấu ấn riêng.

-Từ hành trình nghiên cứu và sáng tạo của mình, theo anh cần làm gì để tận dụng cơ hội, hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 80?

- Từ trải nghiệm cá nhân khi vận hành hệ sinh thái văn hóa nghệ thuật Lên Ngàn, tôi cho rằng có 5 nhóm giải pháp then chốt.

Thứ nhất, phải chuyển từ tư duy làm nghệ thuật sang xây nền tảng công nghiệp. Nghệ sĩ rất cần, nhưng hệ sinh thái chỉ bền khi có đội ngũ nhà sản xuất văn hóa, nhà quản trị, những người hiểu nghệ thuật, hiểu thị trường và hiểu vận hành. Nếu không, nghệ sĩ phải gánh cả tổ chức, tài chính, pháp lý, truyền thông và hệ thống, sẽ rất mong manh.

Thứ hai, cơ chế tài chính cần thay đổi theo hướng đặt hàng theo đầu ra, đồng tài trợ và quỹ đối ứng. Ngân sách cho văn hóa không chỉ cần tăng, mà phải chảy đúng hướng, tạo động lực cạnh tranh lành mạnh.

Thứ ba, phải coi bản quyền và IP (sở hữu trí tuệ) văn hóa là hạ tầng cốt lõi. Không có hệ thống bảo vệ và khai thác tài sản trí tuệ, công nghiệp văn hóa sẽ giống như làm nông nghiệp không có đất.

Thứ tư, số hóa di sản phải gắn với sáng tạo. Số hóa không chỉ để lưu trữ, mà để nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà làm phim, nhà sáng tạo có thể tiếp cận và tái tạo di sản trong những hình thức mới.

Thứ năm, thương hiệu văn hóa quốc gia cần một tuyên ngôn thẩm mỹ. Việt Nam muốn thế giới nhớ mình bằng chất gì? Khi trả lời được câu hỏi đó, chúng ta mới có thể chọn đúng liên hoan, đúng ngành mũi nhọn, đúng tiêu chuẩn chất lượng và đúng câu chuyện để kể.

- Xin cảm ơn anh!

Báo Đại biểu nhân dân

Bộ văn hóa, thể thao và du lịch
×