Định hướng ấy được cụ thể hóa trong Quyết định số 521/QĐ-UBND ngày 3/2/2026 về Chiến lược Chuyển đổi số thành phố Hà Nội đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 và Kế hoạch số 131/KH-UBND ngày 31/3/2026 về chuyển đổi số năm 2026. Trong lĩnh vực văn hóa, thành phố đặt nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ số, phát triển tài sản trí tuệ văn hóa Thăng Long - Hà Nội và các sản phẩm nội dung số.
Yêu cầu ấy càng trở nên cấp thiết khi Hà Nội hiện đang quản lý tới 6.489 di tích lịch sử - văn hóa cùng 1.793 di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê. Với quy mô đồ sộ như vậy, số hóa không chỉ đơn thuần là triển khai công nghệ phân tán tại từng điểm di tích. Bài toán lớn hơn đặt ra là làm thế nào để chuyển hóa khối lượng tư liệu khổng lồ - vốn đang nằm rải rác ở nhiều di tích, hồ sơ và cơ quan quản lý khác nhau, thành một nguồn dữ liệu tập trung, có giá trị khai thác và sử dụng bền vững lâu dài.
Công nghệ đóng vai trò là công cụ nối dài đời sống di sản, giúp quá khứ đối thoại tự nhiên và sinh động hơn với công chúng hôm nay.
Kết nối di tích, hình thành mạng lưới dữ liệu
Một thay đổi đáng chú ý là Hà Nội đang nhìn dữ liệu di sản như một phần của hạ tầng chung thay vì chỉ phục vụ cho từng dự án. Dự án “Các hành trình du lịch di sản trong thành phố Hà Nội” là một ví dụ. Hơn 100 địa điểm được khảo sát, đối chiếu tư liệu tiếng Pháp, Hán - Nôm và tiếng Việt, xây dựng hồ sơ khoa học, từ đó lựa chọn 28 địa điểm vào bốn tuyến chủ đề. Khi dữ liệu được đưa lên bản đồ tương tác, nền tảng H-Heritage và hệ thống mã QR, đền Quán Thánh được đặt trong mối liên hệ với những điểm di sản khác, giúp câu chuyện về Thăng Long được nhìn theo tuyến và theo không gian.
Phần quan trọng hơn nằm phía sau những gì du khách nhìn thấy. Một bản đồ số chỉ có thể sử dụng lâu dài khi dữ liệu được chuẩn hóa, có nguồn gốc rõ ràng và có khả năng cập nhật. Cùng một nguồn dữ liệu khi đó có thể phục vụ quản lý, nghiên cứu, giáo dục, du lịch và phát triển nội dung văn hóa.
Từ các điểm di tích riêng lẻ, số hóa hướng tới xây dựng mạng lưới dữ liệu tập trung.
TS. Nguyễn Thị Hiệp, Chuyên gia kỹ thuật quốc tế (Cơ quan Hợp tác Kỹ thuật quốc tế, Điều phối dự án H-Heritage), cho biết: “Chúng tôi tạo những mô hình hành trình du lịch di sản cho Hà Nội theo những chủ đề cụ thể. Ví dụ như hành trình thờ Tổ nghề để khám phá những nghề cổ nhất của Hà Nội, những nghề cổ nhất của Việt Nam. Hay hành trình thờ Mẫu - một tín ngưỡng đặc thù của Việt Nam, cũng như hành trình di sản chùa, về những chùa đặc biệt thuộc phái Thiền tông của Việt Nam vào thế kỷ 17 - 18.”
Còn TS Lê Thị Minh Lý, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia chia sẻ: “H-Heritage với phương pháp tiếp cận khoa học có sự phối hợp giữa các nhà nghiên cứu và có sự tham gia khảo sát của các sinh viên, trong đó một trong những khía cạnh được quan tâm là giáo dục di sản. Bên cạnh đó, hành trình này được vận dụng bởi công nghệ thông tin và đó vừa là một công cụ hiện đại, hữu hiệu cho việc giới thiệu di sản, đồng thời tạo sự thích thú cho giới trẻ”.
Sở hữu gần 6.500 di tích và hơn 1.700 di sản phi vật thể, Hà Nội cần một cơ sở dữ liệu số tập trung, dùng chung.
Các thông tin về lịch sử, kiến trúc, văn hóa của từng di tích được đưa lên bản đồ tương tác, ứng dụng H-Heritage và hệ thống mã QR tại điểm đến. Đền Quán Thánh vì thế được đặt trong một tuyến dữ liệu và hành trình có sự liên kết với nhiều di tích khác. Cách làm này mở ra khả năng kết nối những lớp thông tin vốn nằm ở nhiều địa điểm khác nhau, từ đó làm rõ hơn các mối liên hệ về lịch sử, tín ngưỡng, nghề nghiệp và không gian đô thị của Thăng Long - Hà Nội.
Công nghệ: Mở một "cánh cửa" để hiểu di sản
Nếu dữ liệu tạo nên phần nền, công nghệ mở rộng cách công chúng tiếp cận những lớp lịch sử mà di tích hiện còn không thể tự kể hết.
Tại 48 Hàng Ngang, công nghệ bản đồ, thực tế ảo và hình ảnh không gian giúp tái hiện một phần Hà Nội năm 1945. Ở Pháo đài Láng, không gian 360 độ và công nghệ phục dựng bằng trí tuệ nhân tạo giúp hình dung rõ hơn về một công trình mà dấu tích vật chất ngày nay không còn nguyên vẹn. Tại Hoàng thành Thăng Long, 3D mapping, hologram, VR360 và không gian trải nghiệm số đang tạo thêm cách kể về di sản. Ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, cơ sở dữ liệu 3D, AR, VR cùng chương trình “Vun đắp hiền tài” kết hợp kiến trúc, lịch sử, âm thanh, ánh sáng và thiết kế để đưa câu chuyện về Quốc Tử Giám đến gần công chúng hơn.
Công nghệ không thay thế di sản, mà làm nhiệm vụ phục dựng những giá trị vốn có nhưng khó tiếp cận. Nhờ đó, câu chuyện Thăng Long được tái hiện sinh động bằng một ngôn ngữ chạm tới công chúng hôm nay.
Công nghệ mang đến góc nhìn mới về tinh thần "vun đắp hiền tài" tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
TS. Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám khẳng định: "Thực hiện quá trình chuyển đổi số, hiện nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám đang tích cực triển khai ứng dụng các sản phẩm công nghệ vào trong hoạt động của di tích. Và trong chương trình Tour đêm Văn Miếu, chúng tôi tiếp tục cho ra mắt bộ phim 3D mapping thứ 3 mang tên 'Vun đắp hiền tài', sau 'Tinh hoa đạo học', và 'Sử đá lưu danh'. Và với những nỗ lực đó, chúng tôi mong muốn ứng dụng công nghệ để kể những câu chuyện về giá trị của Văn Miếu - Quốc Tử Giám một cách thú vị, hấp dẫn, sống động nhất để giới thiệu đến công chúng và đặc biệt là những người trẻ."
Cách tổ chức dữ liệu theo tuyến và không gian cũng đang được mở rộng tại các thiết chế văn hóa của Hà Nội. Tại Bảo tàng Hà Nội, hệ thống trưng bày mới kết hợp màn hình tra cứu, phim 3D và các không gian trải nghiệm công nghệ với hiện vật, tư liệu; mỗi tầng có thể mở thêm thông tin về từng giai đoạn, từ Hà Nội thế kỷ XIX - XX, các cuộc kháng chiến đến thời kỳ xây dựng Thủ đô.
Các hành trình di sản trên không gian số giúp du khách dễ dàng tiếp cận những giá trị lịch sử Thăng Long - Hà Nội.
Hay ở Di tích Nhà tù Hỏa Lò, công nghệ lại hỗ trợ công chúng tiếp cận một lớp lịch sử khác, gắn với những nhân vật, sự kiện và tư liệu được lưu giữ tại di tích. Khi kết hợp tư liệu, không gian và các phương thức giới thiệu trực quan, câu chuyện không chỉ được đọc tại một địa điểm mà có thể được tiếp cận theo từng giai đoạn, từng chủ đề.
Từ bản đồ di sản đến bảo tàng và di tích, công nghệ đang giúp những lớp lịch sử vốn phân tán theo thời gian và không gian được kết nối rõ hơn. Người xem có thể đi từ một địa điểm đến một tuyến di sản, từ một hiện vật đến một giai đoạn lịch sử, hoặc từ câu chuyện của một di tích mở rộng sang những mối liên hệ khác của Thăng Long - Hà Nội.
Từ dữ liệu bảo tồn đến nguồn lực cho sáng tạo
Nhưng công nghệ càng phát triển, yêu cầu về chất lượng dữ liệu đầu vào càng khắt khe. Một mô hình 3D hay hình ảnh phục dựng có thể rất thuyết phục về thị giác, nhưng nếu không phân biệt rõ đâu là căn cứ lịch sử đã xác lập, đâu là phần giả định mô phỏng, sự sinh động ấy rất dễ dẫn đến những sai lệch trong nhận thức về di sản.
Đây cũng là vấn đề được đặt ra tại Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực tổ chức tại Hà Nội cuối tháng 9/2026. Việc bảo tồn, tu bổ, phục hồi di sản cần dựa trên cơ sở khoa học, đồng thời công nghệ phải được sử dụng có trách nhiệm.
Sự kết hợp giữa căn cứ lịch sử chuẩn xác và công nghệ hiện đại là chìa khóa để bảo tồn di sản bền vững.
Với Hoàng thành Thăng Long, nguyên tắc này thể hiện qua cách tiếp cận đối với Điện Kính Thiên. Trong dự án tu bổ, phục hồi được Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội thông qua chủ trương đầu tư tháng 6/2026, công nghệ quét laser 3D được sử dụng để xây dựng hồ sơ khoa học điện tử đối với các cấu kiện, tạo cơ sở hình thành “bản sao số” phục vụ quản lý, lưu trữ và nghiên cứu. Công nghệ ở đây trước hết giúp ghi lại chính xác hiện trạng và dấu tích còn lại, để dữ liệu có thể được lưu giữ, đối chiếu trong quá trình bảo tồn.
Đại diện Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội cho rằng dữ liệu số cần được xem là một phần của hồ sơ khoa học. Mỗi cấu kiện, dấu tích khi được số hóa cần đi kèm thông tin về nguồn gốc, hiện trạng và căn cứ nghiên cứu. TS. Nguyễn Thanh Quang, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội cũng từng trình bày nghiên cứu về việc tái thiết khái niệm tính xác thực từ trường hợp Điện Kính Thiên, dựa trên nhiều lớp bằng chứng và mức độ tin cậy khác nhau.
Tinh thần này được khái quát trong Văn kiện Hà Nội về Di sản và Tính xác thực được thông qua ngày 30/9/2026, trong đó đề cao cơ sở khoa học, đối thoại và ứng dụng công nghệ có trách nhiệm trong bảo tồn, quản lý và phát huy di sản. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận rằng, số hóa không chỉ là tạo ra những hình thức thể hiện mới mà còn phải làm rõ nguồn gốc và độ tin cậy của dữ liệu.
Bảo tàng Hà Nội đang từng bước áp dụng công nghệ số để làm mới trải nghiệm cho du khách.
Chuẩn hóa và kết nối dữ liệu chính là cách biến các hồ sơ bảo tồn thụ động thành nguồn dữ liệu mở, sẵn sàng tái tạo giá trị. Những thông tin đã được kiểm chứng có thể tiếp tục phục vụ giáo dục, du lịch, thiết kế, nội dung số và các ngành công nghiệp văn hóa. Định hướng phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội giai đoạn 2026 - 2030 cũng đặt số hóa di sản, tư liệu văn hóa - nghệ thuật, cơ sở dữ liệu và bản đồ số trong mối liên hệ với AI, Digital Twin, VR/AR và các nền tảng nội dung số.
Kế hoạch số 131/KH-UBND về xây dựng Chiến lược phát triển tài sản trí tuệ văn hóa Thăng Long - Hà Nội tiếp tục mở hướng phát triển những giá trị văn hóa tiêu biểu thành tài sản văn hóa số. Di sản vì thế có thể trở thành chất liệu cho những cách kể mới, nhưng vẫn bắt đầu từ nền tảng tư liệu đã được kiểm chứng.
Trong dịp kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), từ những dấu tích của kinh thành Thăng Long, tư liệu về Hà Nội qua các thời kỳ đến những dữ liệu đang được tạo lập hôm nay, lịch sử Thành phố đang được nối tiếp bằng nhiều phương thức lưu giữ và kể lại. Trong đó, công nghệ không làm thay đổi giá trị cốt lõi của di sản mà mở ra phương thức mới để những giá trị ấy được nhận diện, nghiên cứu và tiếp tục lan tỏa./.
Bài 3: Đánh thức tinh thần Kẻ Chợ - Khi làng nghề gặp sức sống mới