Kết nối số mở rộng khả năng khám phá di sản
Một hành trình khám phá di sản có thể bắt đầu từ câu chuyện lịch sử, hình ảnh một di tích hay thông tin về một hoạt động văn hóa. Để sự quan tâm trở thành trải nghiệm, công chúng cần biết địa điểm ở đâu, có điều gì đáng tìm hiểu, hoạt động diễn ra khi nào và có thể tham gia ra sao. Khả năng tiếp cận thông tin vì thế là một “mắt xích” trong quá trình đưa giá trị di sản đến với người dân.
Đáp ứng nhu cầu đó, Bản đồ số Văn hóa Việt Nam được xây dựng theo hướng kết nối sự kiện, hoạt động và điểm đến trên cùng một nền tảng. Trong không gian này, thông tin về di tích, di sản văn hóa, bảo tàng và làng nghề truyền thống được giới thiệu gắn với vị trí, hình ảnh, nội dung, giờ mở cửa và thông tin liên hệ. Người dùng có thể tìm kiếm theo địa điểm, sự kiện, chủ đề và hoạt động để lựa chọn nội dung quan tâm.
Bản đồ số Văn hóa Việt Nam kết nối thông tin địa điểm, sự kiện và hoạt động văn hóa trên cùng một nền tảng
Trên bản đồ tương tác, người dùng có thể lựa chọn khu vực, tra cứu sự kiện theo vị trí và khám phá các điểm đến được gắn tọa độ GPS. Cách thể hiện trực quan này hỗ trợ công chúng hình dung về không gian văn hóa trước khi lựa chọn trải nghiệm.
Nhìn từ góc độ chuyển đổi số, đây là hướng đưa thông tin từ trạng thái giới thiệu riêng lẻ sang tổ chức theo nhu cầu khám phá. Người sử dụng có thể bắt đầu từ một địa điểm, một hoạt động hoặc một chủ đề quan tâm để tiếp tục tìm hiểu những nội dung liên quan. Di sản nhờ đó có thêm cơ hội hiện diện trong quá trình công chúng tìm kiếm thông tin và lựa chọn trải nghiệm văn hóa.
Cách tiếp cận theo nhu cầu khám phá cũng đặt ra yêu cầu quan tâm đến từng nhóm công chúng. Gia đình cần lựa chọn hoạt động phù hợp với các thành viên; học sinh cần những nội dung hỗ trợ học tập; người đến lần đầu cần chỉ dẫn về địa điểm và chương trình tham quan. Việc giới thiệu di sản trên môi trường số cần xuất phát từ những nhu cầu ấy để thông tin thực sự hữu ích đối với hành trình của người sử dụng.
Cùng với sự thuận tiện khi tìm kiếm, chiều sâu của nội dung là yếu tố tạo nên ý nghĩa cho hành trình khám phá. Một tọa độ giúp xác định nơi chốn, nhưng câu chuyện về nơi chốn ấy mới tạo chiều sâu cho sự tiếp cận. Đối với di sản, mỗi địa điểm còn chứa đựng ký ức, tri thức và những lớp giá trị được bồi đắp qua thời gian. Công nghệ hỗ trợ người dùng tìm đến; nội dung văn hóa giúp họ hiểu vì sao nơi ấy đáng được tìm hiểu, trân trọng và gìn giữ.
Để mở rộng những câu chuyện ấy, phạm vi bao quát nhiều lĩnh vực của Bản đồ số văn hóa Việt Nam tạo thêm điều kiện đặt di tích, bảo tàng và các không gian di sản trong mối liên hệ với đời sống văn hóa địa phương. Công chúng có thể tìm hiểu một địa điểm cùng những hoạt động gắn với vùng đất, qua đó nhận biết di sản trong bối cảnh văn hóa rộng hơn.
Trong không gian kết nối đó, nền tảng dành chỗ cho các hoạt động sinh hoạt cộng đồng, trong đó có nghệ thuật truyền thống, dân ca và giao lưu văn hóa. Thông tin sự kiện được gắn với địa điểm và thời gian, hỗ trợ người dùng tìm hiểu những hoạt động tại khu vực quan tâm.
Khi địa điểm được kết nối với hoạt động và nội dung giới thiệu, hành trình khám phá có thể được mở rộng theo nhiều hướng. Qua những mối liên hệ ấy, công chúng có thêm cơ sở để hiểu di sản trong bối cảnh hình thành, tồn tại và phát triển. Lịch sử của địa điểm, tri thức của người nắm giữ kỹ năng và sự tiếp nối trong cộng đồng giúp làm rõ những giá trị phía sau mỗi hình ảnh, mỗi hoạt động được giới thiệu trên bản đồ.
Đối với các địa phương, đây là cơ hội kể câu chuyện văn hóa của mình từ những nội dung cụ thể. Từ một điểm đến, công chúng có thể tìm hiểu thêm phong tục, nghệ thuật và đời sống của vùng đất; từ một hoạt động, họ có thể quan tâm đến những người đang gìn giữ, trao truyền giá trị văn hóa. Khả năng kết nối của nền tảng vì thế mở thêm hướng khám phá di sản gắn với con người và đời sống địa phương.
Từ môi trường số đến trải nghiệm thực tế
Bản đồ số giúp người dùng khám phá thông tin sự kiện gắn với địa điểm, thời gian và không gian tổ chức tại từng địa phương.
Để sự khám phá trên môi trường số trở thành trải nghiệm có ý nghĩa, trước hết, câu chuyện được chuyển tải cần bảo đảm độ tin cậy. Nội dung giới thiệu phải có căn cứ, giữ đúng ý nghĩa lịch sử, văn hóa và tôn trọng vai trò của cộng đồng gìn giữ di sản. Một hình ảnh hấp dẫn cần đi cùng chú thích chính xác; một cách kể dễ tiếp nhận cần giúp người xem hiểu được những giá trị làm nên bản sắc của địa điểm.
Từ nền tảng hiểu biết đó, công chúng cần được cung cấp những chỉ dẫn phù hợp để tham gia hoạt động thực tế. Với các hoạt động gắn với cộng đồng, thông tin giới thiệu cần làm rõ bối cảnh, ý nghĩa và điều kiện tham gia, giúp người tham quan tôn trọng không gian sinh hoạt và vai trò của chủ thể văn hóa. Sự thuận tiện trong tiếp cận vì thế cần gắn với trách nhiệm khi trải nghiệm di sản.
Khi công chúng đến với di sản, chất lượng phục vụ tại điểm đến tiếp tục quyết định chiều sâu của trải nghiệm. Nội dung trưng bày, cách thuyết minh và sự tham gia của cộng đồng giúp người xem hiểu rõ hơn những điều đã tìm thấy trên môi trường số. Công nghệ giúp người sử dụng tìm đến, còn cuộc gặp gỡ với hiện vật, không gian và con người tại chỗ làm phong phú thêm hiểu biết về di sản.
Một chuyến tham quan, hoạt động học tập hay chương trình tìm hiểu văn hóa được lựa chọn từ những thông tin ban đầu cũng có thể khơi mở những câu hỏi mới. Một hiện vật trong bảo tàng có thể dẫn đến nhu cầu khám phá địa danh liên quan; một chuyến thăm làng nghề có thể gợi sự quan tâm đến kỹ năng và quá trình trao truyền nghề. Từ trải nghiệm tại chỗ, công chúng có thêm lý do tiếp tục tìm hiểu trên môi trường số, duy trì sự quan tâm đến di sản sau chuyến tham quan.
Hiệu quả chuyển đổi số vì vậy cần được nhìn từ khả năng phục vụ công chúng, đó là: thông tin có giúp người sử dụng lựa chọn hoạt động phù hợp, trải nghiệm có làm sâu thêm hiểu biết và khơi gợi nhu cầu tiếp tục khám phá hay không. Đây là cơ sở để gắn phát triển công nghệ với mục tiêu phát huy giá trị di sản.
Phát triển Bản đồ số Văn hóa Việt Nam là một bước tiến cụ thể của ngành Văn hóa trong mở rộng khả năng tiếp cận di sản. Gắn tri thức với trải nghiệm, kết nối số với đời sống thực tế cũng là hướng góp phần thúc đẩy mục tiêu của Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, để những giá trị được gìn giữ tiếp tục lan tỏa trong đời sống hôm nay./.