Từ kết nối hệ thống đến kết quả có thể đo đếm
Trong quá trình triển khai Kế hoạch số 4437/KH-BVHTTDL, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ đã kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đến thời điển hiện tại, hệ thống đã đồng bộ, tiếp nhận thành công 24.736 hồ sơ, gồm 13.425 hồ sơ cấp trung ương, 10.596 hồ sơ cấp tỉnh và 715 hồ sơ cấp xã. Bộ cũng đã hoàn thành kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Đáng chú ý, kết quả này không chỉ được thể hiện bằng việc hai hệ thống có khả năng trao đổi thông tin, mà còn được lượng hóa bằng số hồ sơ đã đồng bộ, tiếp nhận. Đây là điểm quan trọng trong cách tiếp cận chuyển đổi số theo hướng quản lý bằng sản phẩm đầu ra và kết quả thực tế.
Trong môi trường xử lý thủ tục hành chính, dữ liệu thường liên quan đến nhiều khâu, nhiều cơ quan và nhiều hệ thống khác nhau. Nếu các hệ thống vận hành biệt lập, thông tin có thể bị chia cắt, việc khai thác dữ liệu thiếu thống nhất và quá trình xử lý công việc dễ phát sinh những thao tác lặp lại. Kết nối, liên thông tạo điều kiện để thông tin được trao đổi theo quy trình thống nhất, qua đó giảm sự phụ thuộc vào việc chuyển giao hồ sơ hoặc đối chiếu thông tin thủ công.
Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số của Bộ VHTTDL được triển khai trong khuôn khổ Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Một trong những yêu cầu xuyên suốt của đợt cao điểm là chuyển phương thức quản trị sang lấy sản phẩm đầu ra, mức độ sử dụng thực tế và giá trị mang lại làm căn cứ đánh giá.
Đối với kết nối hệ thống, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt. Một hệ thống có thể được đầu tư, hoàn thiện về mặt kỹ thuật, nhưng nếu không kết nối được với các nền tảng liên quan, dữ liệu không được cập nhật hoặc không được khai thác trong quy trình nghiệp vụ thì giá trị chuyển đổi số sẽ bị hạn chế.
Việc đưa nhiệm vụ hoàn thiện Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính vào kế hoạch với đầu ra cụ thể, thời hạn rõ ràng và đơn vị chịu trách nhiệm giúp chuyển yêu cầu kết nối từ định hướng chung thành nhiệm vụ có thể theo dõi, kiểm tra. Kết quả đồng bộ 24.736 hồ sơ cùng việc hoàn thành kết nối với hai cơ sở dữ liệu quốc gia là những minh chứng cụ thể cho quá trình triển khai.
Bộ VHTTDL đã phối hợp với các đơn vị tổ chức Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật nhằm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ
Tác động tích cực của Kế hoạch 100 ngày vì vậy không nên chỉ nhìn ở việc thúc đẩy hoàn thành một số nhiệm vụ trong thời gian ngắn. Quan trọng hơn, kế hoạch tạo ra khuôn khổ đôn đốc và giám sát tiến độ, buộc các đơn vị phải xác định rõ sản phẩm cần hoàn thành, cung cấp số liệu và minh chứng, đồng thời xử lý các vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ.
Cách làm này cũng góp phần đặt kết nối hệ thống trong mối quan hệ với các nhiệm vụ chuyển đổi số khác. Hệ thống giải quyết thủ tục hành chính không thể vận hành hiệu quả nếu dữ liệu đầu vào thiếu chuẩn hóa, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa sẵn sàng chia sẻ hoặc quy trình nghiệp vụ chưa được thiết kế phù hợp. Vì vậy, kết quả kết nối cần được xem là một mắt xích trong quá trình chuyển đổi tổng thể, thay vì một nhiệm vụ kỹ thuật tách biệt.
Kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia và các cơ sở dữ liệu quốc gia là một phần trong yêu cầu rộng hơn về xây dựng môi trường dữ liệu thống nhất của Bộ VHTTDL. Bên cạnh hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, Bộ đang triển khai hoàn thiện, kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ.
Những kết quả đã đạt được trong thời gian triển khai Kế hoạch 100 ngày là quá trình có nhiều bước, từ rà soát, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu đến thống nhất phương thức trao đổi và thực hiện đồng bộ. Việc một hệ thống đã có kết nối kỹ thuật không đồng nghĩa toàn bộ dữ liệu liên quan đã được chuẩn hóa và chuyển sang hệ thống đích. Khối lượng dữ liệu được đồng bộ, chất lượng bản ghi và khả năng cập nhật liên tục vẫn là những yếu tố cần được theo dõi.
Đây cũng là lý do việc ban hành Khung kiến trúc số, Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu và Từ điển dữ liệu dùng chung của Bộ theo Quyết định số 1495/QĐ-BVHTTDL vào tháng 6 năm nay có vai trò quan trọng. Bộ tài liệu tạo cơ sở để các đơn vị thống nhất cách tiếp cận khi xây dựng, nâng cấp, kết nối và chia sẻ dữ liệu, hạn chế tình trạng mỗi hệ thống sử dụng một cách tổ chức thông tin riêng, gây khó khăn cho việc liên thông.
Nếu không có chuẩn chung, việc kết nối có thể chỉ giải quyết được bài toán trao đổi dữ liệu ở từng trường hợp cụ thể, trong khi khó mở rộng sang các hệ thống khác. Ngược lại, khi dữ liệu được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất, có quy định về quản trị và trách nhiệm cập nhật, khả năng kết nối sẽ có điều kiện phát triển bền vững hơn.
Vì vậy, kết nối hệ thống và quản trị dữ liệu cần được triển khai song song. Một bên tạo ra khả năng trao đổi thông tin; bên còn lại bảo đảm dữ liệu được quản lý có tổ chức, có chất lượng và có thể sử dụng đúng mục đích. Đây là điều kiện để dữ liệu trở thành nguồn lực phục vụ điều hành, thay vì chỉ là những bản ghi được lưu trữ tại các hệ thống khác nhau.
Đánh giá kết quả bằng khả năng sử dụng thực tế
Tính đến ngày 9/10/2026, theo hệ thống giám sát Kế hoạch 100 ngày, Bộ VHTTDL đã hoàn thành 12/18 đầu mục nhiệm vụ thuộc phạm vi Bộ chủ trì; 6 đầu mục còn lại đang triển khai và chưa phát sinh nhiệm vụ quá hạn. Kết quả này phản ánh tiến độ thực hiện chung của kế hoạch, đồng thời cho thấy yêu cầu tiếp tục theo dõi sát các nhiệm vụ còn lại để bảo đảm hoàn thành đúng thời hạn.
Với nhiệm vụ kết nối hệ thống, giai đoạn tiếp theo cần tập trung vào chất lượng vận hành và hiệu quả sử dụng. Trước hết, cần duy trì sự ổn định của Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính và kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia; bảo đảm dữ liệu được trao đổi liên tục, chính xác, hạn chế lỗi phát sinh trong quá trình xử lý. Cùng với đó, cần theo dõi khả năng khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia đã kết nối, gắn kết quả kỹ thuật với việc cải thiện quy trình nghiệp vụ.
Ở cấp độ rộng hơn, tiến độ kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành cần được đánh giá không chỉ qua số lượng cơ sở dữ liệu đã hoàn thành kết nối, mà còn qua mức độ đầy đủ, chính xác của dữ liệu được đồng bộ và khả năng duy trì cập nhật. Đây là cơ sở để phân biệt giữa việc hoàn thành một mốc kỹ thuật với việc hình thành năng lực quản trị dữ liệu thực sự.
Kế hoạch 100 ngày đã tạo ra một đợt thúc đẩy có thời hạn, với nhiệm vụ, tiến độ và sản phẩm đầu ra cụ thể. Từ 24.736 hồ sơ được đồng bộ đến việc hoàn thành kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, Bộ VHTTDL đã có những kết quả cụ thể trong quá trình khắc phục các điểm nghẽn về liên thông hệ thống. Bước tiếp theo là chuyển những kết quả đó thành năng lực vận hành ổn định, có thể đo lường và cải thiện liên tục. Khi kết nối không chỉ dừng ở hạ tầng kỹ thuật mà trở thành một phần của quy trình quản lý, dữ liệu mới thực sự phát huy vai trò nền tảng trong tiến trình chuyển đổi số của ngành.