Lên đầu trang
Aa
Thông tin-Trao đổi
Thứ Năm, 22/10/2026 09:23 (GMT+7)
Dữ liệu văn hóa số - từ lưu trữ đến kiến tạo giá trị
Việc xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa số đồng bộ, chuẩn hóa đang là yêu cầu cấp thiết, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho bảo tồn, phát huy di sản và chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành giá trị kinh tế, để văn hóa thực sự trở thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên mới.

Không chỉ tạo bản sao kỹ thuật số

Một làn điệu Quan họ được nghệ nhân cất lên, ghi âm bằng thiết bị hiện đại rồi lưu trữ trên nền tảng số. Nhiều năm sau, người nghe vẫn có thể tìm lại giai điệu ấy. Nhưng nếu thiếu thông tin về người hát, không gian diễn xướng, lề lối thực hành và những lớp nghĩa văn hóa, chúng ta có thể giữ được âm thanh mà đánh mất phần nào hồn cốt di sản.

Ngược lại, khi bản ghi gắn với câu chuyện của nghệ nhân, lịch sử làng Quan họ, phương thức truyền dạy và những tư liệu liên quan, di sản sẽ có thêm cơ hội đến với trường học, bảo tàng, du lịch và các ngành sáng tạo. Từ một tư liệu được lưu giữ, giá trị văn hóa có thể tiếp tục được khám phá, trao truyền và làm giàu trong đời sống đương đại.

Đây là ví dụ được PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, đưa ra tại Hội thảo “Văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới: Phát huy nguồn lực nội sinh, kiến tạo động lực tăng trưởng quốc gia” ngày 21/10. Câu chuyện này cho thấy yêu cầu cốt lõi: số hóa di sản không chỉ là tạo ra bản sao kỹ thuật số, mà phải giúp di sản được hiểu đúng, kết nối rộng hơn và tiếp tục phát huy giá trị.

Theo PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, chuyển đổi số văn hóa trước hết là chuyển đổi tư duy phát triển, không đơn thuần là ứng dụng công nghệ. Số hóa một bức ảnh, bản ghi âm hay mô hình 3D mới là bước khởi đầu. Giá trị thực sự chỉ hình thành khi dữ liệu được tổ chức, kết nối và đưa vào phục vụ bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo.

Chương trình ”Trở về thời khắc thiêng liêng” tái hiện không gian Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 thông qua công nghệ thực tế ảo (VR)
Chương trình "Trở về thời khắc thiêng liêng" tái hiện không gian Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 thông qua công nghệ thực tế ảo (VR). Ảnh: VOV

Thực tế, ngành văn hóa đang đẩy mạnh số hóa di sản. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt trong năm 2026; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa...

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Văn Anh, Trưởng khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, việc triển khai số hóa di sản hiện vẫn cần làm rõ mục tiêu, quy trình, phương pháp, thiết bị và tiêu chí chất lượng; lưu trữ và quản lý dữ liệu; bản quyền, khả năng tiếp cận, khai thác… Khi thiếu chuẩn chung, mỗi đơn vị có thể triển khai theo cách riêng, khiến dữ liệu khó kết nối, chia sẻ và tái sử dụng.

Vì vậy, "yêu cầu đặt ra không đơn thuần là đẩy nhanh tiến độ số hóa, mà cần có một hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia cho số hóa di sản, từ đó xây dựng được hệ thống dữ liệu đồng bộ, tin cậy và có khả năng phát huy giá trị lâu dài", TS. Nguyễn Văn Anh nhấn mạnh.

KTS. Đinh Việt Phương, Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế và Giải pháp công nghệ 3DArt cho rằng, hiện vật, công trình kiến trúc hay những không gian khó tiếp cận đòi hỏi phương pháp và thiết bị khác nhau. Độ chính xác càng cao, chi phí thực hiện càng lớn. Bởi vậy, lựa chọn công nghệ phải dựa trên đối tượng, mục đích sử dụng và yêu cầu bảo tồn, thay vì áp dụng một quy trình chung cho tất cả.

Đặc biệt, dữ liệu di sản phải bắt đầu từ tri thức xác thực. GS. TS Nguyễn Quang Ngọc, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, cảnh báo nguy cơ thông tin thiếu chính xác, bị thêm thắt hoặc bịa đặt lan truyền trên môi trường số. Khi dữ liệu được sao chép và chia sẻ nhanh chóng, sai lệch cũng có thể bị khuếch đại. Bởi vậy, số hóa phải bắt đầu từ nghiên cứu khoa học nghiêm túc, kiểm chứng nguồn tư liệu và tính xác thực của nội dung lịch sử.

Mở dữ liệu song song với bảo vệ bản quyền

Hệ thống dữ liệu dù phong phú đến đâu cũng khó phát huy giá trị nếu chỉ nằm trong kho lưu trữ. Thước đo của số hóa phải là khả năng đưa di sản đến gần công chúng, phục vụ nghiên cứu, giáo dục và tạo ra những giá trị mới.

Theo các chuyên gia, để dữ liệu số có thể phục vụ nhiều mục đích, từ bảo tồn, nghiên cứu đến tham quan, giáo dục và sáng tạo sản phẩm, đòi hỏi sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị công nghệ, nhà nghiên cứu và người sáng tạo, người sử dụng. Nếu thiếu kết nối, sản phẩm số dễ dừng lại sau khi hoàn thành dự án, chưa trở thành nguồn lực sống động của đời sống văn hóa.

Hội thảo ”Văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới: Phát huy nguồn lực nội sinh, kiến tạo động lực tăng trưởng quốc gia” tổ chức ngày 21/10
Hội thảo "Văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới: Phát huy nguồn lực nội sinh, kiến tạo động lực tăng trưởng quốc gia" tổ chức ngày 21/10

Trong quá trình ấy, PGS. TS. Bùi Hoài Sơn lưu ý: mở dữ liệu để khơi thông sáng tạo, nhưng phải bảo vệ bản quyền, quyền của cộng đồng và chủ quyền văn hóa số. Cùng với quyền tiếp cận, phải có cơ chế ghi nhận tác giả, nghệ nhân, cộng đồng nắm giữ di sản và phân chia lợi ích công bằng khi dữ liệu được khai thác thương mại. Chỉ khi cộng đồng thấy mình được tôn trọng và được hưởng lợi, họ mới thật sự trở thành chủ thể tích cực trong quá trình chuyển đổi số.

Một hướng đi giàu tiềm năng là kết nối dữ liệu di sản với trí tuệ nhân tạo (AI). KTS. Đinh Việt Phương cho rằng quy trình số hóa di sản cần được thiết kế phù hợp hơn với yêu cầu huấn luyện AI, bởi công việc này đòi hỏi nguồn dữ liệu được chuẩn hóa, gán nhãn và kiểm chứng kỹ lưỡng. Chẳng hạn, để phát triển hệ thống AI có khả năng tạo hình ảnh, video về kiến trúc Việt Nam, cần có dữ liệu đáng tin cậy về đặc trưng kiến trúc từng thời kỳ: từ hoa văn đến hình thức trang trí, kết cấu công trình...

Xây dựng dữ liệu văn hóa quốc gia, được nhìn nhận như bộ phận của hạ tầng tri thức, nhằm đưa những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ tiếp tục hiện diện chân thực, có ý nghĩa và có khả năng khơi nguồn sáng tạo, trở thành nguồn lực mới cho phát triển đất nước.

“Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có quy định về hạ tầng văn hóa số, trong đó xác định hạ tầng dữ liệu văn hóa số là cấu phần cốt lõi, bao gồm kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, cơ sở dữ liệu về văn hóa, nền tảng số và các công cụ phục vụ tạo lập, quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ, phân tích, khai thác dữ liệu. Dự thảo Luật cũng đặt ra yêu cầu kết nối, liên thông, tái sử dụng dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng, quyền sở hữu trí tuệ và tránh đầu tư trùng lặp"

Cùng chuyên mục
Xây dựng văn hóa đọc - từ tò mò đến tình yêu sách
Trong nhịp sống hiện đại, khi công nghệ số và các phương tiện truyền thông phát triển rất nhanh, nhu cầu tiếp cận tri thức của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, ngày càng đa dạng. Tuy nhiên, điều cần quan tâm không chỉ là người dân có đọc sách hay không, mà quan trọng hơn là đọc gì, đọc như thế nào và làm sao để hình thành được thói quen đọc sâu, đọc có suy ngẫm.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân gặp đại diện cộng đồng người Việt Nam tại châu Âu
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Liên minh châu Âu và Vương quốc Bỉ, chiều 21/10 (giờ địa phương), tại thủ đô Brussels, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp gỡ cán bộ, nhân viên Cơ quan đại diện Việt Nam tại Bỉ và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại châu Âu.
Nghị quyết số 26-NQ/TW: Luồng sinh khí mới nâng tầm vị thế du lịch Thủ đô
Nằm ở trung tâm của vùng đồng bằng sông Hồng, ngành du lịch Thủ đô đang đứng trước thời cơ vàng để bứt phá toàn diện. Việc triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trong kỷ nguyên mới, tạo luồng sinh khí mạnh mẽ, khẳng định vai trò hạt nhân của Hà Nội trên bản đồ du lịch.
Phim trường số: Mở rộng không gian điện ảnh Việt Nam
Là 1 trong 17 sáng kiến phát triển công nghiệp văn hóa năm 2026 vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố, Phim trường số hướng tới góp phần giải bài toán kinh phí và năng lực dàn dựng bối cảnh quy mô lớn của điện ảnh Việt Nam.
Liên hoan sân khấu Hà Nội: Làm mới cách kể chuyện lịch sử bằng nghệ thuật Tuồng
Với sự kết hợp giữa nghệ thuật truyền thống với ngôn ngữ dàn dựng hiện đại, vở diễn “Dấu thiêng Hà Nội-Cho những gì còn mãi” thực sự chạm đến cảm xúc của khán giả trẻ bằng sự gần gũi và cuốn hút.
EMC Đã kết nối EMC