Khi đó, xã hội hóa không có nghĩa là Nhà nước rút lui khỏi lĩnh vực văn hóa, mà đòi hỏi Nhà nước phải hiện diện mạnh hơn với vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư nền tảng, bảo vệ lợi ích công cộng và tạo dựng niềm tin để các nguồn lực xã hội được huy động, tham gia và phát huy đúng hướng.
Vậy đâu là những rào cản khiến nguồn lực xã hội chưa thực sự được khơi thông, và cần thay đổi điều gì để xã hội hóa văn hóa đi vào thực chất?
PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội
Phóng viên: Thưa PGS.TS Bùi Hoài Sơn, xã hội hóa nguồn lực cho văn hóa đã được xác định là một chủ trương quan trọng, nhưng trên thực tế việc huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, đặc biệt là công nghiệp văn hóa, vẫn còn không ít điểm nghẽn. Theo ông, đâu là những rào cản lớn nhất khiến xã hội hóa văn hóa chưa phát huy hết tiềm năng?
PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở chỗ xã hội thiếu nguồn lực hay doanh nghiệp không quan tâm đến văn hóa, mà ở chỗ chúng ta chưa tạo được một môi trường đủ rõ ràng, đủ hấp dẫn và đủ an toàn để nguồn lực xã hội có thể đi vào văn hóa một cách bền vững. Nhiều năm qua, xã hội hóa đã trở thành một chủ trương đúng, nhưng ở không ít nơi vẫn chủ yếu được hiểu là huy động thêm tiền ngoài ngân sách, thay vì hình thành một cơ chế hợp tác lâu dài giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và các chủ thể sáng tạo.
Trước hết là rào cản về thể chế. Các quy định liên quan đến đầu tư, đất đai, tài sản công, thuế, tín dụng, đấu thầu, đặt hàng, sở hữu trí tuệ, khai thác thiết chế văn hóa hiện còn nằm rải rác ở nhiều luật và được thiết kế chủ yếu cho những lĩnh vực kinh tế truyền thống. Trong khi đó, công nghiệp văn hóa có những đặc điểm rất riêng: tài sản lớn nhất có khi không phải là nhà xưởng, máy móc mà là một kịch bản, một thiết kế, một nhân vật, một bản ghi, một thương hiệu hay quyền khai thác một tài sản trí tuệ. Nếu cơ chế tài chính vẫn chủ yếu nhìn vào tài sản hữu hình, doanh nghiệp sáng tạo sẽ khó tiếp cận vốn; nếu cơ chế đầu tư công, tài sản công và hợp tác công - tư chưa phù hợp, nhiều thiết chế văn hóa có tiềm năng vẫn khó được khai thác hiệu quả.
Thứ hai là bài toán lợi nhuận và rủi ro. Đầu tư văn hóa thường cần thời gian dài, khả năng thu hồi vốn không nhanh, trong khi hiệu quả xã hội lại rất lớn nhưng khó quy đổi ngay thành doanh thu. Nếu chính sách chỉ yêu cầu doanh nghiệp tự chịu toàn bộ rủi ro thị trường mà không có cơ chế chia sẻ rủi ro, ưu đãi hoặc “vốn mồi”, chúng ta khó thu hút được những nhà đầu tư dài hạn.
Thứ ba là thị trường văn hóa chưa thật sự phát triển đồng bộ. Bản quyền còn bị xâm phạm, dữ liệu thị trường thiếu, hoạt động định giá tài sản trí tuệ còn yếu, các kênh phân phối và xúc tiến quốc tế chưa đủ mạnh. Doanh nghiệp vì thế không chỉ thiếu vốn mà còn thiếu niềm tin vào khả năng bảo vệ thành quả sáng tạo và khả năng mở rộng thị trường.
Vì vậy, theo tôi, muốn xã hội hóa đi vào thực chất thì phải chuyển từ tư duy “kêu gọi đóng góp” sang tư duy “thiết kế cơ hội đầu tư”. Nhà nước không rút lui khỏi văn hóa khi xã hội hóa; ngược lại, Nhà nước phải hiện diện mạnh hơn ở vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư nền tảng, bảo vệ lợi ích công cộng và tạo niềm tin để nguồn lực xã hội được huy động đúng hướng.
Phóng viên: Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo môi trường thuận lợi để huy động các nguồn lực xã hội. Theo ông, Luật cần tháo gỡ những vướng mắc nào để khơi thông nguồn lực xã hội cho văn hóa?
PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa chỉ thật sự tạo ra “cú huých” nếu giải được bài toán mà các luật chuyên ngành hiện nay chưa giải được, tức là kết nối toàn bộ chuỗi giá trị từ tài nguyên văn hóa, sáng tạo, tài sản trí tuệ, huy động vốn, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư. Luật không nên chỉ bổ sung thêm thủ tục quản lý, mà cần trở thành một đạo luật kiến tạo phát triển.
Trước hết, Luật cần xác lập rõ cơ chế huy động và sử dụng các nguồn lực xã hội. Phải làm rõ những mô hình nào có thể thực hiện hợp tác công - tư; cơ chế Nhà nước đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp đầu tư vận hành; cơ chế thuê, liên doanh, liên kết, khai thác hợp lý tài sản và thiết chế văn hóa công; đồng thời phải có tiêu chí minh bạch để ngăn việc lợi dụng danh nghĩa văn hóa để hưởng ưu đãi.
Thứ hai, cần có các chính sách đủ cụ thể về đất đai, thuế, tín dụng và đầu tư. Một dự án công nghiệp văn hóa có giá trị sáng tạo cao, tạo việc làm, quảng bá hình ảnh quốc gia hay phục hồi một không gian di sản không thể bị đối xử hoàn toàn như một dự án bất động sản thương mại thuần túy. Nhưng ưu đãi cũng không thể áp dụng tràn lan. Theo tôi, nên thiết kế ưu đãi theo mức độ đóng góp thực chất: giá trị văn hóa tạo ra, tỷ lệ đầu tư cho sáng tạo, số lượng việc làm sáng tạo, khả năng hình thành tài sản trí tuệ Việt Nam, mức độ tiếp cận của công chúng và hiệu quả quảng bá quốc gia.
Thứ ba, Luật phải tháo nút thắt về tài sản trí tuệ. Cần tạo hành lang để tài sản trí tuệ văn hóa được nhận diện, đăng ký, định giá, góp vốn, chuyển nhượng, cấp phép khai thác và từng bước được sử dụng trong quan hệ tín dụng. Khi tài sản sáng tạo có thể trở thành tài sản kinh tế thực sự, doanh nghiệp mới có thêm động lực để đầu tư vào ý tưởng, con người và nội dung.
Thứ tư, cần mở rộng các công cụ của Nhà nước ngoài hình thức cấp phát ngân sách: đặt hàng, đấu thầu sản phẩm và dịch vụ sáng tạo, quỹ đầu tư hoặc quỹ hỗ trợ, bảo lãnh tín dụng, đồng tài trợ, voucher sáng tạo, hỗ trợ xúc tiến thị trường và xuất khẩu. Đây là những công cụ giúp ngân sách nhà nước trở thành “vốn mồi” để kéo theo nhiều lần nguồn lực xã hội.
Điều quan trọng nhất là Luật phải tạo được sự ổn định và khả năng dự đoán của chính sách. Doanh nghiệp có thể chấp nhận rủi ro sáng tạo, nhưng họ rất khó chấp nhận rủi ro thể chế. Khi quyền, nghĩa vụ, cơ chế ưu đãi và thủ tục được quy định rõ ràng, minh bạch, nhất quán, xã hội hóa mới thực sự chuyển từ lời kêu gọi thành quyết định đầu tư.
Sự tham gia tích cực của các cá nhân, doanh nghiệp cũng như các tổ chức xã hội vào việc phát triển văn hóa - nghệ thuật đã hình thành nên mạng lưới sản phẩm và dịch vụ văn hóa nghệ thuật đa dạng, phong phú. Ảnh: Show diễn Ký ức Hội An/
Phóng viên: Một trong những yêu cầu đặt ra là hình thành đồng bộ các yếu tố của công nghiệp văn hóa, từ tài sản trí tuệ văn hóa, hạ tầng, nguồn nhân lực đến thị trường và cơ chế thu hút đầu tư. Theo ông, cần cơ chế, chính sách gì để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư và đồng hành lâu dài với văn hóa?
PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, doanh nghiệp sẽ đồng hành lâu dài khi họ nhìn thấy ba điều: có cơ hội tạo ra giá trị, có khả năng bảo vệ giá trị đó và có một thị trường đủ lớn để tái đầu tư. Vì vậy, chính sách không nên chỉ tập trung vào ưu đãi đầu vào, mà phải giúp hình thành cả một hệ sinh thái kinh doanh văn hóa.
Trước hết, cần phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa theo hướng mở và dùng chung: các trung tâm sáng tạo, trường quay, không gian biểu diễn, trung tâm thiết kế, phòng thí nghiệm công nghệ sáng tạo, kho dữ liệu số, nền tảng giao dịch bản quyền, cụm công nghiệp văn hóa và các khu phố sáng tạo. Nhà nước có thể đầu tư hạ tầng nền tảng, còn doanh nghiệp và cộng đồng tham gia khai thác, vận hành theo những cơ chế minh bạch. Cách làm này giúp giảm chi phí gia nhập thị trường cho các doanh nghiệp nhỏ, nhóm sáng tạo và start-up.
Thứ hai, cần xây dựng thị trường tài sản trí tuệ văn hóa. Muốn doanh nghiệp đầu tư vào sáng tạo, chúng ta phải bảo vệ quyền tác giả tốt hơn, rút ngắn quy trình xác lập và xử lý quyền, phát triển tổ chức định giá, môi giới, giao dịch và bảo hiểm tài sản trí tuệ. Cùng với đó là cơ chế tín dụng phù hợp với doanh nghiệp sáng tạo, trong đó dòng tiền từ quyền khai thác, hợp đồng phân phối, bản quyền và các tài sản vô hình có thể được xem xét như một căn cứ tài chính thay vì chỉ nhìn vào bất động sản thế chấp.
Thứ ba, cần hình thành chính sách phát triển thị trường. Nhà nước có thể hỗ trợ xúc tiến, tham gia hội chợ và thị trường nội dung quốc tế, xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm văn hóa, hỗ trợ dịch thuật, bản địa hóa, phân phối số và bảo hộ quyền ở nước ngoài. Một doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư hơn rất nhiều nếu họ nhìn thấy con đường đưa sản phẩm từ thị trường trong nước ra khu vực và thế giới.
Thứ tư, cần chính sách nhân lực linh hoạt hơn: đặt hàng đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp, liên kết cơ sở đào tạo với studio, nhà hát, công ty công nghệ; thu hút chuyên gia, nghệ sĩ, nhà sản xuất, kỹ sư sáng tạo; đồng thời có cơ chế để nghệ nhân và người nắm giữ di sản tham gia chuỗi giá trị một cách công bằng.
Tôi cũng cho rằng cần khuyến khích các mô hình đầu tư dài hạn thông qua quỹ, đồng tài trợ và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình kinh doanh mới. Văn hóa là lĩnh vực cần sự kiên nhẫn. Chính sách tốt phải giúp doanh nghiệp nhìn thấy rằng đầu tư cho văn hóa không chỉ là trách nhiệm xã hội, mà có thể trở thành một chiến lược kinh doanh bền vững, tạo thương hiệu, tạo tài sản trí tuệ và tạo giá trị lâu dài cho chính doanh nghiệp.
Phóng viên: Theo ông, làm thế nào để vừa thu hút đầu tư xã hội, vừa bảo đảm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa?
PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, đây không phải là hai mục tiêu đối lập. Nếu thiết kế chính sách tốt, chính nguồn lực xã hội sẽ giúp di sản và các giá trị văn hóa được bảo tồn tốt hơn, có thêm đời sống mới và đến được với công chúng rộng rãi hơn. Vấn đề là phải xác định rất rõ giới hạn của thị trường và trách nhiệm của Nhà nước.
Nguyên tắc đầu tiên là những giá trị cốt lõi, tính xác thực, tính toàn vẹn và quyền lợi của cộng đồng chủ thể văn hóa phải được đặt lên trước lợi ích thương mại ngắn hạn. Không thể vì thu hút đầu tư mà cho phép biến di sản thành phông nền kinh doanh, làm sai lệch nghi lễ, bóp méo biểu tượng hay khai thác quá mức sức chịu tải của không gian văn hóa. Mọi dự án sử dụng tài nguyên văn hóa cần có đánh giá tác động văn hóa, không chỉ đánh giá tác động môi trường hay hiệu quả tài chính.
Nguyên tắc thứ hai là cộng đồng phải được tham gia và được hưởng lợi. Đặc biệt với di sản, làng nghề, tri thức truyền thống và văn hóa của các cộng đồng địa phương, người dân không thể chỉ là “đối tượng trình diễn” cho một dự án kinh doanh. Họ cần được tham gia từ khâu thiết kế, giám sát đến phân chia lợi ích; quyền sở hữu trí tuệ, quyền đối với tri thức truyền thống và quyền được tôn trọng về văn hóa phải được bảo đảm.
Nguyên tắc thứ ba là ưu đãi phải đi cùng cam kết. Một dự án được hưởng ưu đãi đất đai, thuế hay hạ tầng vì mục tiêu văn hóa thì phải có nghĩa vụ tương ứng: tỷ lệ không gian dành cho hoạt động văn hóa, số ngày phục vụ cộng đồng, mức đầu tư cho bảo tồn, tỷ lệ sử dụng lao động sáng tạo địa phương, cam kết duy trì công năng và các chỉ số về tiếp cận văn hóa. Nếu không thực hiện đúng cam kết, phải có cơ chế thu hồi ưu đãi.
Bên cạnh đó, chúng ta cần khuyến khích “bảo tồn bằng phát triển”: số hóa di sản, thiết kế sản phẩm mới từ chất liệu truyền thống, phát triển du lịch văn hóa có trách nhiệm, đưa nghệ thuật truyền thống vào không gian sáng tạo, xây dựng thương hiệu địa phương và sản phẩm có chỉ dẫn nguồn gốc. Khi một giá trị văn hóa tạo ra sinh kế và niềm tự hào cho cộng đồng, khả năng nó được gìn giữ sẽ bền vững hơn rất nhiều.
Vì vậy, điều cần tránh không phải là thị trường, mà là thương mại hóa thiếu nguyên tắc. Thị trường cần được dẫn dắt bởi các giá trị văn hóa; còn Nhà nước phải giữ vai trò đặt ra những “hàng rào” bảo vệ những gì không thể đánh đổi.
Phóng viên: Nếu phải xác định một số việc cần làm ngay sau khi Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được ban hành để bảo đảm tinh thần xã hội hóa thực sự đi vào cuộc sống, theo ông, những nhiệm vụ ưu tiên nào cần được triển khai?
PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, việc đầu tiên là phải tránh tình trạng Luật ban hành nhưng doanh nghiệp và địa phương vẫn phải chờ rất lâu để biết mình được làm gì và làm như thế nào. Vì vậy, các nghị định, thông tư hướng dẫn cần được chuẩn bị song song, với tinh thần càng rõ trách nhiệm, càng ít tầng nấc trung gian và càng dễ thực hiện càng tốt.
Tôi cho rằng có năm nhóm việc cần làm sớm. Một là, công bố bộ tiêu chí xác định dự án, doanh nghiệp, sản phẩm và không gian công nghiệp văn hóa được hưởng chính sách. Tiêu chí phải lượng hóa được để ưu đãi đến đúng đối tượng và ngăn tình trạng “đội lốt văn hóa” để hưởng lợi về đất đai, thuế hay tài sản công.
Hai là, lựa chọn một số địa phương và một số lĩnh vực có lợi thế để thí điểm các cơ chế mới: hợp tác công - tư trong thiết chế văn hóa, cụm sáng tạo, khai thác tài sản công, quỹ hỗ trợ sáng tạo, tín dụng dựa trên tài sản trí tuệ, đặt hàng sản phẩm văn hóa và sandbox cho mô hình kinh doanh số. Làm thí điểm tốt sẽ tạo ra những mẫu hình cụ thể để nhân rộng.
Ba là, lập bản đồ nguồn lực và cơ hội đầu tư công nghiệp văn hóa ở từng địa phương: quỹ đất, thiết chế có thể khai thác, di sản và tài nguyên văn hóa, doanh nghiệp, nhân lực, tài sản trí tuệ, nhu cầu thị trường. Xã hội hóa sẽ khó thành công nếu nhà đầu tư không biết cơ hội nằm ở đâu và cơ quan quản lý không biết mình đang có những nguồn lực gì.
Bốn là, thiết lập một đầu mối hỗ trợ nhà đầu tư và chủ thể sáng tạo theo cơ chế “một cửa”. Công nghiệp văn hóa liên quan tới nhiều lĩnh vực pháp luật nên nếu doanh nghiệp phải tự đi qua quá nhiều cơ quan, chi phí thể chế sẽ làm mất đi sức hấp dẫn của chính sách. Đầu mối này cần hỗ trợ từ thủ tục đầu tư, sở hữu trí tuệ, đất đai, thuế, tiếp cận quỹ đến xúc tiến thị trường.
Năm là, xây dựng hệ thống dữ liệu và cơ chế giám sát hiệu quả xã hội hóa. Chúng ta cần đo được không chỉ số vốn huy động, mà cả số việc làm sáng tạo, số tài sản trí tuệ hình thành, mức tăng doanh thu, tỷ lệ tái đầu tư, mức độ thụ hưởng văn hóa của người dân và tác động đối với bản sắc, cộng đồng.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng thành công của xã hội hóa không thể đo đơn giản bằng việc ngân sách nhà nước chi ít đi bao nhiêu. Thành công phải được đo bằng việc tổng nguồn lực cho văn hóa tăng lên bao nhiêu, chất lượng sản phẩm và dịch vụ văn hóa tốt lên thế nào, người dân được thụ hưởng nhiều hơn ra sao, doanh nghiệp có thể sống được bằng sáng tạo hay không và các giá trị văn hóa có được bảo tồn, lan tỏa mạnh mẽ hơn hay không. Khi trả lời được những câu hỏi đó, xã hội hóa mới thực sự trở thành động lực phát triển chứ không chỉ dừng lại ở một chủ trương đúng.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!