Lên đầu trang
Aa
Thông tin-Trao đổi
Thứ Bảy, 22/8/2026 08:11 (GMT+7)
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Gỡ “nút thắt” để địa phương phát huy lợi thế riêng
Mỗi địa phương đều sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, từ di sản, làng nghề, nghệ thuật truyền thống, ẩm thực đến du lịch và các sản phẩm sáng tạo. Nhưng để những giá trị ấy được khai thác hiệu quả, trở thành sản phẩm, thương hiệu và nguồn lực phát triển, cần một hành lang pháp lý đủ rõ và đồng bộ. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng để các địa phương phát huy lợi thế, kết nối nguồn lực và từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Tháo gỡ “nút thắt” để địa phương phát huy lợi thế riêng

Trong tiến trình phát triển đất nước, văn hóa ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển nhanh và bền vững. Tinh thần này được khẳng định trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo là một trong những hướng quan trọng để biến các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển.

Cùng với đó, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục tạo cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, huy động nguồn lực xã hội và chuyển đổi số.

Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, mà phải từng bước chuyển hóa các giá trị đó thành sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu và giá trị kinh tế có sức cạnh tranh.

Huế - đô thị di sản, trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm tạo lập khung thể chế đồng bộ, hành lang pháp lý rõ ràng và ổn định, đồng bộ, khuyến khích sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy thị trường văn hóa phát triển, qua đó đưa văn hóa thực sự trở thành một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế.

Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Huế Nguyễn Thiên Bình cho biết: Từ thực tiễn Huế - đô thị di sản, trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc và thành phố Festival của Việt Nam - có thể thấy công nghiệp văn hóa không phải là lĩnh vực tách rời hoạt động bảo tồn, mà là phương thức chuyển hóa có trách nhiệm các giá trị di sản, cảnh quan, tri thức và bản sắc địa phương thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng Đề án phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của thành phố cho thấy nhiều điểm nghẽn chưa thể xử lý đầy đủ bằng các quy định hiện hành: Chưa có hệ thống chỉ tiêu thống kê đủ khả năng bóc tách đóng góp của từng ngành; việc khai thác tài sản công và không gian di sản để tổ chức hoạt động sáng tạo còn thiếu cơ chế linh hoạt; các quy định về đặt hàng, lựa chọn nhà sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công tư và thương mại hóa tài sản trí tuệ chưa thật sự phù hợp với tính đặc thù của sản phẩm văn hóa.

Vì vậy, từ góc độ địa phương, chúng tôi kỳ vọng Luật không chỉ xác lập chính sách khuyến khích chung mà còn tạo công cụ pháp lý đủ rõ và khả thi để các địa phương phát huy lợi thế riêng; đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, giữa quyền chủ động sáng tạo với trách nhiệm bảo vệ di sản, bản quyền và lợi ích cộng đồng.

Những cơ chế mới như: thử nghiệm có kiểm soát, đặt hàng nhiệm vụ sáng tạo, ưu đãi đầu tư và khai thác hợp lý nguồn lực văn hóa chỉ phát huy hiệu quả khi điều kiện, thẩm quyền, trình tự và trách nhiệm được quy định minh bạch, thống nhất và thuận lợi trong tổ chức thực hiện” – ông Nguyễn Thiên Bình nói.

Huế - đô thị di sản, trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc

Đồng quan điểm trên, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng Nguyễn Thị Hội An nhấn mạnh, việc phát triển văn hóa đồng bộ với tăng trưởng kinh tế luôn là định hướng cốt lõi. Thời gian qua, thành phố đã tập trung đầu tư, đưa các sản phẩm du lịch văn hóa, tổ chức sự kiện và lễ hội quốc tế trở thành thương hiệu đặc trưng.

Dù đã có những dấu ấn nhất định, thực tiễn triển khai tại địa phương vẫn đang vấp phải không ít "điểm nghẽn". Đó là những khó khăn về cơ chế thu hút đầu tư ngoài nhà nước, bài toán hợp tác công - tư (PPP) trong thiết chế văn hóa, hay vấn đề bảo vệ bản quyền, định giá tài sản trí tuệ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người làm sáng tạo.

“Chính vì vậy, chính quyền và những người làm công tác văn hóa tại địa phương đặt kỳ vọng rất lớn vào đạo luật này. Chúng tôi tin tưởng rằng, khi Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được thông qua, những "nút thắt" về cơ chế sẽ được tháo gỡ. Luật sẽ tạo ra đòn bẩy pháp lý mạnh mẽ để các địa phương tự tin ban hành chính sách đặc thù, các doanh nghiệp an tâm đầu tư, và đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ có động lực để cống hiến” – Bà Nguyễn Thị Hội An nói.

Cần một cơ chế tốt hơn để đưa di sản văn hóa thành sản phẩm có giá trị

Sau Huế và Đà Nẵng, có thể thấy nhu cầu lớn nhất từ các địa phương không chỉ là một hành lang pháp lý chung, mà là những cơ chế đủ cụ thể để mỗi địa phương có thể phát huy thế mạnh riêng, huy động nguồn lực xã hội và hình thành chuỗi giá trị văn hóa phù hợp với điều kiện thực tế.

Từ thực tiễn Ninh Bình, câu chuyện được nhìn rõ hơn ở khả năng chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm, thương hiệu và nguồn lực kinh tế, đồng thời tạo ra nguồn lực quay trở lại nuôi dưỡng di sản và cộng đồng.

Ninh Bình sở hữu hệ thống tài nguyên văn hóa, thiên nhiên phong phú

Ninh Bình sở hữu hệ thống tài nguyên văn hóa, thiên nhiên phong phú, nổi bật là Quần thể danh thắng Tràng An, hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, cùng các giá trị về lễ hội, tín ngưỡng, làng nghề và văn hóa dân gian. Tuy nhiên, theo Giám đốc Sở Du lịch Ninh Bình Bùi Văn Mạnh, vấn đề không phải địa phương có bao nhiêu tài nguyên, mà là có thể chuyển hóa những tài nguyên đó thành bao nhiêu sản phẩm sáng tạo có giá trị, có thương hiệu và khả năng tham gia thị trường.

Vì vậy, nếu Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa được ban hành, đây sẽ là cơ sở quan trọng để tạo thêm hành lang pháp lý và cơ chế chính sách cho quá trình chuyển hóa đó. Thay vì chỉ bảo tồn di sản hoặc khai thác di sản dưới góc độ tham quan, du lịch, chúng ta có thể tiếp cận di sản như một nguồn tài nguyên để sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ và tài sản trí tuệ.

“Với Ninh Bình, chúng tôi không muốn chỉ đưa du khách đến tham quan một di sản, mà muốn kể được câu chuyện về di sản, sáng tạo ra những sản phẩm từ câu chuyện đó và đưa những sản phẩm ấy đến với công chúng bằng nhiều hình thức khác nhau như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, thiết kế, thủ công mỹ nghệ, xuất bản, nội dung số, sản phẩm lưu niệm và du lịch văn hóa” - Ông Bùi Văn Mạnh nói.

Cùng với khả năng chuyển hóa tài nguyên thành sản phẩm, lợi ích quan trọng khác mà địa phương kỳ vọng từ Luật là huy động được nguồn lực xã hội lớn hơn cho văn hóa.

Ông Bùi Văn Mạnh cho biết: Dự thảo Luật đã thể hiện khá rõ quan điểm Nhà nước kiến tạo và huy động nguồn lực xã hội. Nhà nước ưu tiên đầu tư đối với những công trình hạ tầng công nghiệp văn hóa có tính chiến lược, liên vùng, có khả năng lan tỏa; đồng thời khuyến khích khu vực tư nhân, cộng đồng và các nguồn lực hợp pháp khác cùng tham gia đầu tư, quản lý, vận hành và khai thác hạ tầng.

Ninh Bình sở hữu hệ thống tài nguyên văn hóa, thiên nhiên phong phú

Qua đó, Giám đốc Sở Du lịch Ninh Bình đặc biệt kỳ vọng vào cơ chế đồng đầu tư giữa Nhà nước và khu vực tư nhân. Theo ông, với những dự án có ý nghĩa tạo dựng thương hiệu văn hóa nhưng rủi ro thị trường ban đầu còn cao, Nhà nước có thể tham gia ở vai trò kiến tạo, hỗ trợ hạ tầng và chia sẻ một phần rủi ro; còn doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp sáng tạo, đầu tư, vận hành và thương mại hóa sản phẩm. 

Để làm được điều đó, ông Bùi Văn Mạnh cho rằng, điều quan trọng nhất là Luật phải giúp tạo lập một hệ sinh thái liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nghệ nhân, cộng đồng, cơ sở đào tạo và đội ngũ sáng tạo. Khi đó, di sản không chỉ được “giữ gìn” mà còn được tiếp nối bằng sức sáng tạo đương đại; thiên nhiên không chỉ được khai thác mà phải được “phụng dưỡng”; người dân không đứng ngoài quá trình phát triển mà trở thành chủ thể và người thụ hưởng../.

>> Kỳ sau: Kinh tế sáng tạo: Động lực tăng trưởng mới của Việt Nam trong kỷ nguyên số

Linh Anh
Cùng chuyên mục
Kinh tế sáng tạo: Động lực tăng trưởng mới của Việt Nam trong kỷ nguyên số
Trong kỷ nguyên số, kinh tế sáng tạo không chỉ biến những giá trị vô hình thành nguồn thu triệu đô mà còn là “chìa khóa” mở ra không gian phát triển mới, nâng cao sức cạnh tranh và định vị thương hiệu quốc gia trên toàn cầu.
Quy định phòng, chống doping tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026
Quy định về phòng, chống doping tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026 được ban hành theo Quyết định số Quyết định số 78/QĐ-BTCĐHTTTQ ngày 20 tháng 8 năm 2026 của Trưởng Ban Tổ chức Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Quy định này được ban hành và thực thi nhằm tăng cường nỗ lực phòng, chống doping tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X (sau đây viết tắt là Đại hội X), bảo vệ sức khỏe vận động viên, bảo đảm công bằng, liêm chính thể thao và tôn trọng quyền của vận động viên.
Công nghệ mở lối cho du lịch thế hệ mới
Gần 5.000 lượt đăng ký, gần 100 gian hàng cùng hệ sinh thái công nghệ trị giá khoảng 52 tỉ đồng đã hội tụ tại HORECFEX VIETNAM 2026 ở Đà Nẵng.
Phát triển công nghiệp âm nhạc gắn với công nghệ, bản quyền
Sự phát triển của công nghệ đang mở rộng không gian sáng tạo trong lĩnh vực âm nhạc; đồng thời đặt ra những vấn đề mới về chất lượng tác phẩm, bản sắc và bản quyền. Trong chuyển động ấy, âm nhạc Việt Nam cần chủ động thích ứng, lấy giá trị nghệ thuật làm trung tâm.
Xuân Son lập cú đúp, tuyển Việt Nam giành quyền vào chơi chung kết ASEAN Cup 2026
Hai bàn thắng của Xuân Son đã giúp tuyển Việt Nam giành chiến thắng 2-0 trước Malaysia ở trận bán kết lượt về, qua đó giành quyền vào chơi trận chung kết với tổng tỷ số 4-0.
EMC Đã kết nối EMC