Những chuyển động ấy cho thấy Việt Nam không thiếu chất liệu văn hóa để bước vào thị trường. Vấn đề là làm thế nào để những thành công riêng lẻ có thể nối thành chuỗi giá trị, tạo nguồn lực cho sáng tạo tiếp tục phát triển và đưa các giá trị văn hóa Việt Nam đến với công chúng rộng hơn.
Điện ảnh là lĩnh vực cho thấy khá rõ khả năng chuyển hóa chất liệu lịch sử thành sản phẩm đại chúng. “Đào, phở và piano” (2023) của đạo diễn Phi Tiến Sơn, bộ phim do Nhà nước đặt hàng, sau khi tạo hiệu ứng trong công chúng đã được mở rộng phát hành và đạt doanh thu 21 tỷ đồng, tương đương kinh phí Nhà nước đầu tư cho phim. Năm 2025, “Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đạt khoảng 172 tỷ đồng; “Mưa đỏ” của đạo diễn Đặng Thái Huyền tiếp tục cho thấy sức hút của đề tài lịch sử khi vượt mốc 500 tỷ đồng doanh thu.
Thực tế cho thấy, khi được đặt trong một ngôn ngữ sáng tạo phù hợp, lịch sử có thể trở thành sản phẩm đại chúng, được công chúng đón nhận và tạo ra giá trị kinh tế. Phía sau doanh thu là cả chuỗi từ kịch bản, sản xuất, kỹ thuật, phát hành đến truyền thông và khai thác bản quyền.
Theo TS. Ngô Phương Lan (Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam), công nghiệp văn hóa là ngành công nghiệp dựa trên sự giao thoa giữa sáng tạo, tri thức, tài năng và các giá trị bản sắc để sản xuất, phân phối và tiêu thụ các sản phẩm văn hóa. Đây là quá trình “biến văn hóa thành sản phẩm kinh tế”, vừa tạo giá trị giải trí, giáo dục, vừa tạo lợi nhuận và việc làm. Điểm cốt lõi của công nghiệp văn hóa là sức sáng tạo, song ngày càng gắn với công nghệ, số hóa, trí tuệ nhân tạo và truyền thông đa nền tảng.
Với những bộ phim khai thác lịch sử, huyền sử, năng lực biến chất liệu thành một sản phẩm hoàn chỉnh càng trở nên quan trọng. “Hộ Linh Tráng Sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh”, ra mắt cuối tháng 8/2026, do đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình thực hiện, với Johnny Trí Nguyễn đảm nhiệm vai trò đạo diễn hành động, lấy cảm hứng từ truyền thuyết về bảy vị tráng sĩ đưa 99 quan tài của Đinh Tiên Hoàng nhằm đánh lạc hướng kẻ thù. Bộ phim được ghi hình tại Ninh Bình trong 83 ngày, cho thấy quy mô và yêu cầu nguồn lực lớn của một dự án khai thác chất liệu huyền sử.
Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình cho hay: "Chính sách đối với điện ảnh cần quan tâm đến toàn bộ quá trình, từ khâu phát triển kịch bản, phim trường cho đến hậu kỳ. Quá trình làm hậu kỳ của "Hộ Linh Tráng Sĩ" cho thấy chúng ta còn thiếu những phòng hậu kỳ (post-production) chuyên nghiệp, đủ khả năng xử lý âm thanh và hình ảnh theo tiêu chuẩn rạp chiếu.
Quan trọng hơn, cần có điều kiện để các bộ phận sáng tạo, từ họa sĩ, âm nhạc đến đạo diễn, có thể cùng làm việc và thống nhất tiếng nói nghệ thuật. Một bộ phim là kết quả của cả một guồng máy, chỉ cần một bộ phận lệch khỏi guồng máy đó thì chất lượng chung của tác phẩm cũng sẽ bị ảnh hưởng.”
Những thành công phòng vé cho thấy thị trường đã có nhu cầu; câu chuyện tiếp theo là năng lực sản xuất và các điều kiện phía sau tác phẩm có đáp ứng được nhu cầu ấy hay không. Đây là một trong những yêu cầu đặt ra đối với chính sách phát triển công nghiệp văn hóa.
Nếu điện ảnh cho thấy lịch sử có thể trở thành sản phẩm đại chúng, sân khấu và các thực hành văn hóa truyền thống lại đặt ra bài toán làm thế nào để di sản tiếp tục có đời sống trong xã hội đương đại.
Vở xiếc - cải lương “Trần Nhân Tông” ra mắt tháng 12/2025, do Liên đoàn Xiếc Việt Nam phối hợp Nhà hát Sân khấu truyền thống Quốc gia Việt Nam thực hiện, kết hợp hai loại hình biểu diễn truyền thống để kể câu chuyện về Phật hoàng Trần Nhân Tông. Dù doanh thu chưa phải yếu tố nổi bật, sự quan tâm của khán giả và việc tiếp tục mở thêm các suất diễn cho thấy những hình thức nghệ thuật truyền thống vẫn có khả năng tìm kiếm công chúng khi được đổi mới cách tiếp cận.
Theo NSND Tống Toàn Thắng (Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam), phát triển CNVH không thể chỉ dừng ở những tiết mục đơn lẻ mà cần hình thành chuỗi giá trị, kết nối nghệ thuật với công nghệ, truyền thông, du lịch, thiết kế và các ngành công nghiệp hỗ trợ để sản phẩm có thể được khai thác lâu dài.
Câu chuyện về chuỗi giá trị cũng xuất hiện ở những thực hành đưa di sản vào sáng tạo đương đại. Đưa di sản vào đời sống mới cũng là hướng thực hành của đạo diễn Nguyễn Quốc Hoàng Anh, nhà sáng lập LÊNNGÀN. Từ “Sơn Hậu - Beyond the Mountain” (2020), “Đối diện với vô cùng” (2024) đến “Mã: Đường về hư vô” (2025), anh khai thác chất liệu tuồng, chèo và các thực hành truyền thống bằng ngôn ngữ sân khấu, âm nhạc và trình diễn đương đại.
Khi những chất liệu ấy ngày càng được số hóa và có thể được AI xử lý, tái tạo ở quy mô lớn, câu hỏi về nguồn dữ liệu, chủ thể văn hóa và quyền lợi cộng đồng cũng trở nên rõ hơn. Đạo diễn Nguyễn Quốc Hoàng Anh chia sẻ: “Khi chúng ta đưa những chất liệu văn hóa vào AI, câu hỏi đặt ra là chúng ta có thật sự hiểu những chất liệu đó hay không? Với những khối lượng dữ liệu rất lớn, metadata, tức thông tin về nguồn dữ liệu, ở đâu? Chủ thể của cộng đồng văn hóa đó là ai? Chúng ta có trách nhiệm gì với dữ liệu nguồn và cộng đồng có được thụ hưởng từ việc khai thác đó hay không?
Tôi nghĩ đây là câu chuyện về trách nhiệm và đạo đức của những người sử dụng chất liệu văn hóa. AI tạo ra khả năng khuếch đại rất lớn, giúp chúng ta xử lý và hệ thống hóa những nguồn dữ liệu mà trước đây khó có thể thực hiện. Nhưng càng có khả năng khai thác lớn thì càng cần ý thức rõ về nguồn gốc và chủ thể của những dữ liệu đó.”
Từ quyền của chủ thể, câu chuyện trở lại với những người trực tiếp giữ và thực hành di sản. Nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Long, người có nhiều năm nghiên cứu và thực hành âm nhạc truyền thống, cho rằng khó khăn của nghệ nhân không chỉ nằm ở việc giữ nghề mà còn ở môi trường và sự hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu, bảo tồn, phục hồi và biểu diễn. Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long (Hội Âm nhạc Việt Nam), một người đã có nhiều năm nghiên cứu và thực hành âm nhạc truyền thống, cho rằng: “Những người làm nghệ thuật truyền thống đều rất tâm huyết, yêu văn hóa, yêu nghệ thuật và các giá trị di sản. Tuy nhiên, khó khăn còn rất nhiều, từ môi trường hoạt động đến sự hỗ trợ, đồng hành cả về vật chất và tinh thần đối với nghệ nhân, cũng như trong nghiên cứu, bảo tồn, phục hồi và biểu diễn.
Tôi hy vọng những chính sách mới sẽ từng bước tháo gỡ những khó khăn đó, để nghệ nhân có thêm điều kiện và tâm huyết cống hiến. Những đóng góp của nghệ nhân trong nghệ thuật, di sản và văn hóa truyền thống cũng sẽ góp phần tạo điểm nhấn, sức hút để du khách trong nước và quốc tế đến Việt Nam.”
Bài toán tương tự xuất hiện ở các làng nghề khi kỹ thuật truyền thống được đưa vào những sản phẩm và nhu cầu mới. Làng lụa Vạn Phúc (Hà Nội) gắn nghề dệt với hoạt động du lịch, trải nghiệm và phát triển sản phẩm; nghề mây tre đan Phú Vinh (Hà Nội) mở rộng từ vật dụng truyền thống sang đồ mỹ nghệ, nội thất và trang trí.
Tại làng nghề lược sừng Thụy Ứng (Hà Nội), việc kết nối với các nhà sáng tạo, nhà thiết kế và họa sĩ cũng được kỳ vọng mở thêm hướng phát triển mẫu mã và ứng dụng sản phẩm vào đời sống.
“Nếu được kết nối với các nhà sáng tạo, nhà thiết kế và các họa sĩ thì đây là một cơ hội tốt với chúng tôi. Làng nghề mong muốn làm sao đưa thủ công truyền thống được phát triển hơn, có nhiều mẫu mã hơn và kết hợp để ứng dụng, nâng cao chất lượng cuộc sống như thời trang, chăm sóc sức khỏe...”, nghệ nhân Nguyễn Văn Sử (làng Thụy Ứng, Hà Nội) cho biết.
Đưa di sản vào đời sống mới vì thế kéo theo những bài toán về bảo vệ giá trị, quyền của chủ thể và cách thức khai thác. Càng mở rộng không gian sáng tạo và thị trường, những yêu cầu ấy càng cho thấy sự cần thiết của một khung pháp lý chuyên biệt để di sản vừa được bảo vệ, vừa có khả năng phát triển.
Ở quy mô lớn hơn, thị trường âm nhạc cho thấy khả năng tạo chuỗi giá trị quanh một sản phẩm văn hóa. “Anh trai vượt ngàn chông gai” và “Anh trai say hi” đã mở ra làn sóng concert quy mô lớn; riêng “V Concert - Rạng rỡ Việt Nam”, “V Fest - Thanh xuân rực rỡ” và “Tổ quốc trong tim” thu hút gần 100.000 khán giả trong hai ngày 9 và 10/8/2025 tại Hà Nội. Đằng sau doanh thu bán vé là cả hệ sinh thái sản xuất, truyền thông, bản quyền, nội dung số và dịch vụ.
Những mô hình như vậy cho thấy sức sáng tạo chỉ thực sự tạo ra giá trị lớn khi được kết nối với các nguồn lực, thị trường và ngành công nghiệp hỗ trợ. Với di sản, yêu cầu này càng rõ bởi giá trị được tạo ra cần quay trở lại nuôi dưỡng chính cộng đồng và những người tiếp tục thực hành.
TS. Vũ Đường Luân (Trưởng phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác phát triển, Giảng viên Khoa Công nghiệp văn hóa và Di sản, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (SIS), Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng cần chuyển từ cách nhìn di sản như một đối tượng tĩnh sang coi di sản sống là hệ sinh thái tri thức, kỹ năng, ký ức và thực hành văn hóa luôn được cộng đồng tái tạo.
TS. Vũ Đường Luân cho biết: “Khung chính sách phải tạo ra nền tảng để cộng đồng, nghệ nhân, người thực hành và cộng đồng địa phương tham gia thực chất vào quá trình nhận diện, xây dựng kế hoạch bảo vệ, quyết định phương thức khai thác và phân phối lợi ích. Mọi hoạt động thương mại hóa phải dựa trên nguyên tắc đồng thuận, minh bạch, tôn trọng quyền văn hóa và không làm sai lệch ý nghĩa của di sản. Cần thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, bảo đảm một phần doanh thu từ du lịch, biểu diễn, sản phẩm thiết kế hay nội dung số được tái đầu tư trực tiếp cho cộng đồng và hoạt động trao truyền.”
Ông đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo hộ đối với tri thức truyền thống và các biểu đạt văn hóa dân gian, cũng như xây dựng liên kết giữa cộng đồng, Nhà nước, trường đại học, doanh nghiệp, nghệ sĩ và nhà thiết kế. Cùng với đó, số hóa, AI, thực tế tăng cường và thương mại điện tử có thể mở rộng không gian tiếp cận di sản, nhưng công nghệ cần phục vụ cộng đồng và không thay thế chủ thể thực hành.
Những câu chuyện từ điện ảnh, sân khấu, làng nghề đến âm nhạc cho thấy để văn hóa tạo ra giá trị kinh tế bền vững, không thể chỉ trông vào sức sáng tạo của từng sản phẩm. Cần một hệ thống bảo vệ tài sản trí tuệ, phát triển nhân lực, đầu tư hạ tầng, kết nối thị trường và bảo đảm các chủ thể được tham gia, hưởng lợi.
Đó cũng là hướng tiếp cận được đặt ra trong Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, với các nhóm chính sách về hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tài sản trí tuệ, nhân lực và hạ tầng. Khi những mắt xích này được kết nối, giá trị tạo ra từ văn hóa có thể tiếp tục quay trở lại nuôi dưỡng sáng tạo, đồng thời mở rộng khả năng đưa những sản phẩm mang câu chuyện, hình ảnh và bản sắc Việt Nam đến với thị trường rộng hơn./.