Từ sản phẩm sáng tạo đến tài sản có giá trị
Văn hóa Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, từ di sản vật thể, phi vật thể, kho tàng văn học nghệ thuật, tri thức dân gian đến những sáng tạo đương đại của đội ngũ nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà làm phim, nhạc sĩ và các doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, tiềm năng văn hóa chỉ thực sự chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế khi những giá trị sáng tạo được tổ chức thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng tiếp cận thị trường, tạo doanh thu và tiếp tục được đầu tư phát triển.
Nghệ thuật biểu diễn truyền thống là nguồn tài nguyên sáng tạo và tài sản trí tuệ quan trọng của công nghiệp văn hóa. Ảnh: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Thực tế cho thấy, một tác phẩm nghệ thuật, bộ phim, trò chơi điện tử, chương trình biểu diễn hay thiết kế sáng tạo không chỉ có giá trị ở sản phẩm ban đầu. Đằng sau đó còn là kịch bản, hình ảnh, âm nhạc, nhân vật, thiết kế, thương hiệu và nhiều thành tố sáng tạo có thể tiếp tục được khai thác qua các hình thức khác nhau. Nếu không nhận diện, xác lập và quản trị tốt quyền sở hữu, giá trị kinh tế của sản phẩm sẽ khó được phát huy đầy đủ. Người sáng tạo có thể tạo ra tác phẩm nhưng chưa chắc đã nắm được quyền khai thác; doanh nghiệp có thể đầu tư sản xuất nhưng gặp khó khăn khi mở rộng thị trường, nhà đầu tư cũng khó đánh giá tài sản để đưa ra quyết định.
Đây cũng chính là nội dung trong dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được đưa ra thảo luận tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI từ ngày 24-10 đến ngày 14-11-2026. Điều này đang mở ra cơ hội để giải quyết một trong những điểm nghẽn để tiến tới cách tiếp cận mới nhằm phát triển công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị. Đáng chú ý, dự thảo gồm 8 chương, 39 điều, tập trung vào 6 nhóm chính sách, trong đó có nhóm chính sách hỗ trợ sáng tạo, xác lập và xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa.
Dự thảo cũng lần đầu đề cập việc xác định phần mềm phục vụ sáng tạo và nền tảng số hỗ trợ quyền sở hữu trí tuệ là hạ tầng phục vụ hoạt động công nghiệp văn hóa. Những công cụ này không chỉ hỗ trợ quá trình sáng tạo mà còn có chức năng lưu vết, tạo căn cứ chứng minh quá trình hình thành sản phẩm, phục vụ xác lập, bảo hộ và khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ.
Theo Giám đốc nghệ thuật của tổ chức Heritage Space Nguyễn Anh Tuấn, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là điểm có ý nghĩa quan trọng. Bởi trong môi trường sáng tạo số, một sản phẩm có thể được hình thành qua nhiều công đoạn, với sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức và công nghệ khác nhau. Việc xác định ai là tác giả, ai nắm giữ quyền, phần đóng góp nào thuộc về từng chủ thể và quyền khai thác được phân chia ra sao không phải lúc nào cũng đơn giản. Nếu thiếu hồ sơ và dữ liệu đầy đủ ngay từ đầu, tranh chấp có thể phát sinh khi sản phẩm đã được đưa ra thị trường hoặc bắt đầu tạo ra doanh thu.
Vì vậy, quản trị tài sản trí tuệ cần được tính đến ngay từ khâu hình thành ý tưởng, chứ không chỉ được thực hiện khi sản phẩm đã hoàn thành. Một kịch bản phim, thiết kế nhân vật, bản nhạc, bộ nhận diện thương hiệu hay nội dung trò chơi cần được xác định rõ nguồn gốc sáng tạo, chủ thể quyền và phạm vi sử dụng. Cách làm này vừa bảo vệ người sáng tạo, vừa tạo sự minh bạch cho các hoạt động đầu tư, hợp tác và thương mại hóa.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đánh giá: “Tài sản trí tuệ phải được xem là một trong những khâu đột phá. Khi người sáng tạo không được bảo vệ, khi việc vi phạm bản quyền còn dễ dàng, khi tài sản trí tuệ chưa được định giá và giao dịch thuận lợi, thì rất khó hình thành một thị trường sáng tạo chuyên nghiệp. Chúng ta cần hoàn thiện cơ chế xác lập, định giá, bảo hộ, chuyển giao và khai thác tài sản trí tuệ; đồng thời tăng hiệu quả thực thi pháp luật về bản quyền trên cả môi trường vật lý và môi trường số”.
Khơi thông dòng chảy từ quyền đến thị trường
Một trong những hạn chế của hoạt động công nghiệp văn hóa hiện nay là sự đứt gãy giữa các khâu: Sáng tạo, xác lập quyền, huy động vốn, sản xuất, phân phối, tiêu dùng và tái đầu tư. Có những sản phẩm được đầu tư công phu nhưng chưa xây dựng được phương án khai thác dài hạn. Nhiều ý tưởng giàu tiềm năng nhưng khó tìm được nhà đầu tư do chưa chứng minh được quyền sở hữu hoặc chưa xác định được giá trị tài sản. Không ít sản phẩm sau khi kết thúc một chương trình, sự kiện lại chưa được phát triển thành dịch vụ có khả năng vận hành thường xuyên.
Ý tưởng sáng tạo, nghệ thuật dàn dựng, thiết kế mỹ thuật và công nghệ trình diễn là những thành tố tạo nên giá trị tài sản trí tuệ của sản phẩm công nghiệp văn hóa. Ảnh: Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch.
Đặt tài sản trí tuệ vào trung tâm chuỗi giá trị chính là khơi thông dòng chảy từ quyền sở hữu đến thị trường. Khi quyền được xác lập rõ ràng, tài sản trí tuệ có thể trở thành cơ sở để ký kết hợp đồng cấp phép, chuyển nhượng, hợp tác khai thác, nhượng quyền hoặc phát triển các sản phẩm phái sinh. Một nhân vật hoạt hình có thể trở thành hình tượng trong phim, trò chơi, sách, đồ lưu niệm. Hoặc một tác phẩm âm nhạc có thể được khai thác qua biểu diễn, bản ghi, quảng cáo và các nền tảng số...
Như vậy, giá trị của sản phẩm văn hóa không dừng lại ở lần phát hành hay trình diễn đầu tiên mà còn có thể tạo ra nhiều dòng doanh thu, mở rộng vòng đời sản phẩm và hình thành thương hiệu có sức sống lâu dài. Đây cũng là khác biệt giữa việc tổ chức một hoạt động văn hóa đơn lẻ với việc xây dựng một mô hình kinh doanh văn hóa có khả năng phát triển bền vững.
Một ví dụ tiêu biểu là hình ảnh chú mèo Hello Kitty nổi tiếng do công ty Sanrio (Nhật Bản) xây dựng. Thay vì chỉ khai thác nhân vật qua một sản phẩm hoạt hình, Sanrio phát triển Hello Kitty thành một thương hiệu có thể xuất hiện trên nhiều loại hàng hóa, dịch vụ và trải nghiệm. Công ty cũng cấp phép có thu phí cho các đối tác sử dụng hình ảnh, tên nhân vật trong sản xuất sản phẩm, quảng cáo, tổ chức sự kiện và các hoạt động hợp tác thương hiệu. Tính đến thời điểm hiện tại, Sanrio đã công bố danh mục hơn 400 nhân vật và có hệ thống cấp phép thương hiệu tại nhiều thị trường.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đã đề cập đến việc hình thành sàn giao dịch công nghiệp văn hóa, với vai trò kết nối chủ thể sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ, sản phẩm, nhà đầu tư và người sử dụng. Nếu được thiết kế và vận hành hiệu quả, đây có thể trở thành một thiết chế trung gian quan trọng, giúp các tài sản trí tuệ tìm được đối tác khai thác, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp và nhà đầu tư tiếp cận những sản phẩm có tiềm năng.
TS. Nguyễn Thị Thủy, Viện Nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho rằng: “Đây là một bước chuyển rất lớn về mặt thể chế của Việt Nam, mở đường hình thành thị trường tài sản trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ sáng tạo và có chất lượng của người làm văn hóa sẽ không những được bảo vệ mà còn có thể được định giá, thế chấp, góp vốn cũng như tạo các sản phẩm phái sinh. Đây chính là điểm khởi đầu để Việt Nam có thể hình thành nên diện mạo của ngành công nghiệp thuần thục và có hệ sinh thái bền vững, giảm tối đa tính rủi ro của ngành. Quan trọng hơn thị trường sở hữu trí tuệ công nghiệp văn hóa sẽ góp phần trao quyền cho lĩnh vực này đi sâu vào các ngành, lĩnh vực khác, tạo nên giá trị gia tăng trong kể chuyện về sản phẩm”.
Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là tạo ra thêm nhiều bộ phim, chương trình biểu diễn, trò chơi, sản phẩm thiết kế hay không gian trải nghiệm mới. Quan trọng hơn, phải hình thành được những tài sản trí tuệ có chủ thể rõ ràng, có khả năng bảo hộ, định giá, giao dịch và khai thác lâu dài. Khi người sáng tạo được bảo vệ và hưởng lợi xứng đáng, nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội và thị trường vận hành minh bạch, giá trị văn hóa sẽ có thêm điều kiện để chuyển hóa thành giá trị kinh tế.
Theo báo Hà Nội mới