Với người dân ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, việc tìm đến một thư viện lớn có thể mất nhiều thời gian và công sức. Bởi vậy, giá trị đầu tiên của thư viện cơ sở nằm ở sự gần gũi: sách có mặt tại nơi người dân sinh sống, học tập và sinh hoạt. Một tủ sách ở nhà văn hóa, một góc đọc trong trường học hay một điểm phục vụ lưu động đều có thể tạo nên cuộc gặp gỡ giữa người đọc và những cuốn sách phù hợp.
Song, có sách mới chỉ là bước khởi đầu. Để người dân quay lại, điểm đọc cần có tài liệu đáp ứng nhu cầu thực tế, giờ phục vụ thuận tiện và những hoạt động giúp việc đọc trở nên hấp dẫn. Trẻ em có thể tìm thấy sách truyện, kiến thức phù hợp lứa tuổi; người lớn tìm đọc tài liệu phục vụ công việc, đời sống và nhu cầu tự học. Khi nguồn sách được làm mới và giới thiệu đúng đối tượng, thư viện cơ sở sẽ dần trở thành một địa chỉ quen thuộc của cộng đồng.
Ảnh minh họa
Tại Quảng Ngãi, Thư viện Tổng hợp tỉnh đang tăng cường luân chuyển sách theo từng đợt hoặc theo nhu cầu của địa phương, ưu tiên trường học, điểm đọc và những nơi còn hạn chế về điều kiện tiếp cận thông tin. Hoạt động này được kết hợp với phục vụ lưu động, ngày hội đọc sách và các chương trình khuyến đọc. Nhờ đó, một nguồn tài liệu có thể lần lượt đến với nhiều nhóm bạn đọc, đồng thời giúp các điểm đọc cơ sở có thêm sách mà không phải tự bổ sung toàn bộ từ đầu.
Cách đưa sách đến người đọc cũng được thể hiện qua hoạt động tại Lâm Đồng. Năm 2025, địa phương thành lập 7 tủ sách mới ở các điểm trường, trao tặng 1.000 bản sách cho Thư viện cộng đồng Ngọc An và tổ chức phục vụ lưu động tại 1.177 điểm trường, cơ sở. Những con số ấy cho thấy không gian phục vụ của thư viện có thể mở rộng ra ngoài phòng đọc: sách đến trường học, đến cộng đồng và đến những nơi người dân có điều kiện sử dụng thuận tiện hơn.
Ở vùng cao, việc duy trì một điểm đọc thường xuyên cần đi cùng các hình thức phục vụ linh hoạt. Tại Cao Bằng, các tủ sách cộng đồng ở xã, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, tiếp tục được duy trì; xe thư viện lưu động của Thư viện tỉnh phục vụ theo lịch định kỳ. Người dân và học sinh không chỉ đọc, mượn sách mà còn tham gia các hoạt động giới thiệu tài liệu, hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam, giao lưu tìm hiểu kiến thức. Sự kết hợp giữa tủ sách tại chỗ và những chuyến đưa sách về cơ sở giúp hoạt động đọc có thêm sức sống ở địa bàn khó khăn.
Nếu luân chuyển và phục vụ lưu động giúp mở rộng nguồn sách, sự gắn kết với các thiết chế cộng đồng lại tạo điều kiện để hoạt động thư viện được duy trì hằng ngày. Tại Thái Nguyên, mô hình thư viện được kết hợp với trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng; theo thông tin công bố năm 2026, 79 trong số 92 xã, phường đã ra mắt và đưa thiết chế này vào hoạt động. Cùng với đó, xe thư viện lưu động “Ánh sáng tri thức” phục vụ tại 15 trường học, thu hút gần 20.000 lượt học sinh. Thư viện tỉnh còn luân chuyển 2.600 bản sách và hướng dẫn nghiệp vụ cho 22 điểm, mô hình thư viện.
Ảnh minh họa
Từ những cách làm khác nhau, có thể thấy thư viện cơ sở phát huy hiệu quả khi được đặt trong mạng lưới liên kết, thay vì hoạt động riêng lẻ. Thư viện cấp tỉnh hỗ trợ nguồn tài liệu, nghiệp vụ và hoạt động phục vụ; chính quyền, trường học, các thiết chế văn hóa ở địa phương tạo địa điểm và kết nối với người dân. Tại Đồng Tháp, việc duy trì mạng lưới thư viện cơ sở cùng các mô hình thư viện cộng đồng, tủ sách cơ sở đang góp phần đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và giải trí. Địa phương cũng chú trọng luân chuyển tài nguyên thông tin đến khu dân cư, trường học, vùng sâu, vùng xa và phát triển những không gian đọc linh hoạt.
Sự liên kết ấy còn cần thiết đối với người trực tiếp phụ trách thư viện. Bên cạnh việc bổ sung sách, họ phải quản lý tài liệu, nắm nhu cầu bạn đọc, giới thiệu sách và tổ chức hoạt động khuyến đọc. Tại Quảng Ngãi, Thư viện Tổng hợp tỉnh đã chuyển dần từ hỗ trợ theo từng đợt sang đồng hành thường xuyên, kết hợp hướng dẫn trực tiếp với trao đổi qua môi trường số, chia sẻ tài liệu và biểu mẫu nghiệp vụ. Cách làm này giúp các điểm đọc có thêm sự hỗ trợ trong quá trình vận hành, nhất là khi nhân lực ở cơ sở còn hạn chế.
Cùng với sách in, tài nguyên điện tử đang mở thêm phương thức tiếp cận tri thức. Tuy nhiên, điều kiện về thiết bị, đường truyền và kỹ năng sử dụng công nghệ giữa các địa bàn chưa đồng đều. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ cần gắn với nhu cầu thực tế của người đọc và khả năng vận hành của từng điểm thư viện. Sách in, điểm đọc trực tiếp, phục vụ lưu động và tài nguyên số có thể bổ trợ cho nhau để nhiều người dân được tiếp cận thông tin hơn.
Một thư viện cơ sở có sức sống không được đo chỉ bằng số sách trên giá. Điều đáng quan tâm là sách có đến đúng người cần đọc, tài liệu có được làm mới, điểm đọc có mở cửa và người dân có muốn trở lại. Khi những việc ấy được duy trì, thư viện trở thành nơi trẻ em khám phá thế giới qua trang sách, người lớn tiếp tục tự học và các thế hệ cùng chia sẻ tri thức. Từ những không gian đọc gần gũi như vậy, văn hóa đọc có điều kiện bén rễ bền vững trong đời sống cộng đồng./.