Từ thực tiễn địa phương, nhiều đề xuất đang hướng tới việc gắn phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng với phát triển sản phẩm, thương hiệu và không gian sáng tạo, phù hợp với điều kiện của từng vùng, miền.
Hoạt động sáng tạo trên nền tảng di sản làng nghề góp phần đưa những giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục hiện diện trong các sản phẩm phù hợp với đời sống đương đại. Ảnh minh họa/dongxuancorp.com
Từ giá trị văn hóa đến sản phẩm công nghiệp văn hóa
Khai thác những giá trị văn hóa đặc trưng để hình thành sản phẩm, dịch vụ là một trong những vấn đề được đặt ra trong quá trình các địa phương góp ý dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phiên bản 1.0.
Trong đó, Bắc Ninh đề nghị nghiên cứu bổ sung chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa khai thác giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích bảo tồn, phát huy nghề thủ công truyền thống, lễ hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, tri thức dân gian và các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam gắn với phát triển công nghiệp văn hóa. Theo nội dung góp ý, việc quy định chính sách này nhằm tạo sự liên kết giữa bảo tồn giá trị văn hóa và khai thác hợp lý các giá trị đó để hình thành sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Sở hữu nguồn di sản phong phú, Bắc Ninh đề nghị nghiên cứu chính sách ưu tiên, cơ chế đặc thù đối với địa phương có nhiều di sản văn hóa được UNESCO ghi danh hoặc có mật độ di sản văn hóa đặc biệt lớn, nhằm phát huy giá trị di sản gắn với phát triển công nghiệp văn hóa.
Cùng với đó, địa phương đề nghị có chính sách hỗ trợ phát triển thương hiệu văn hóa địa phương; khuyến khích phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa gắn với di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, làng nghề, nghệ thuật biểu diễn và các giá trị văn hóa đặc trưng của từng địa phương.
Việc phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên những lợi thế riêng của từng địa phương cũng được đặt ra từ góc độ nguồn lực thực hiện. Tại Điều 6, Bắc Ninh đề nghị bổ sung nguyên tắc ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước và cơ chế hỗ trợ từ ngân sách Trung ương đối với các địa phương có tiềm năng, lợi thế đặc thù về di sản văn hóa nhưng còn khó khăn về nguồn lực đầu tư để phát triển công nghiệp văn hóa; đồng thời đề nghị có tiêu chí xác định ngành, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm và nguyên tắc phân bổ, hỗ trợ nguồn lực.
Từ thực tiễn Quảng Trị, vấn đề khai thác nguồn lực văn hóa địa phương cũng được đặt trong mối quan hệ với khả năng phân bổ nguồn lực. Sở VHTTDL tỉnh Quảng Trị đề nghị nghiên cứu bổ sung cơ chế hỗ trợ theo mức độ phát triển hoặc khả năng tự cân đối ngân sách, trong đó ưu tiên bố trí nguồn lực đối với những địa phương còn khó khăn, chưa tự cân đối ngân sách nhưng có tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa.
Theo nội dung góp ý của Quảng Trị, cơ chế này sẽ góp phần tạo điều kiện để các địa phương khai thác hiệu quả lợi thế về di sản văn hóa, tài nguyên du lịch và bản sắc văn hóa địa phương, hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị gia tăng, thu hút đầu tư và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền.
Ở một góc độ khác, Vĩnh Long đề xuất nghiên cứu bổ sung vai trò của chính quyền địa phương trong phát triển ngành đặc thù gắn với di sản văn hóa, làng nghề truyền thống tại địa phương; đồng thời đề cập đến liên kết vùng trong phát triển công nghiệp văn hóa và cơ chế xã hội hóa, huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước.
Mở rộng không gian cho sáng tạo từ nguồn lực bản địa
Các thiết chế văn hóa hiện có là một trong những không gian có thể được khai thác phục vụ hoạt động sáng tạo, giới thiệu và trải nghiệm văn hóa. Ảnh minh họa/TTXVN
Bên cạnh sản phẩm và nguồn lực đầu tư, các đề xuất từ địa phương còn đề cập đến không gian để các giá trị văn hóa tham gia vào hoạt động sáng tạo, sản xuất, trình diễn, giới thiệu và tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Từ thực tiễn một tỉnh miền núi, Tuyên Quang đề nghị bổ sung, làm rõ hoặc mở rộng khái niệm về tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa để bao hàm cả các mô hình không gian sáng tạo gắn với làng nghề truyền thống, di tích lịch sử - văn hóa và không gian văn hóa cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Theo Sở VHTTDL tỉnh Tuyên Quang, tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa tại các tỉnh miền núi như Tuyên Quang gắn với các giá trị di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội và không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng chứ không chỉ tập trung tại các khu đô thị hay nhà máy chuyển đổi công năng.
Ở Thanh Hóa, hướng khai thác các thiết chế văn hóa hiện có được đặt ra cụ thể hơn. Sở VHTTDL tỉnh Thanh Hóa đề nghị bổ sung cơ chế ưu tiên cải tạo, nâng cấp và khai thác hiệu quả các thiết chế văn hóa hiện có như nhà hát, trung tâm văn hóa, bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, không gian sinh hoạt cộng đồng để phục vụ đồng thời sáng tạo, sản xuất, trình diễn, giới thiệu và tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Địa phương cũng đề nghị bổ sung cơ chế khuyến khích hình thành tổ hợp, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa tại những địa phương có lợi thế về di sản, du lịch, nghệ thuật và làng nghề.
Các đề xuất từ địa phương tập trung vào việc phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa gắn với di sản, lễ hội truyền thống, làng nghề, nghệ thuật biểu diễn và các giá trị văn hóa đặc trưng; đồng thời quan tâm đến thương hiệu văn hóa, không gian sáng tạo, thiết chế văn hóa và nguồn lực thực hiện. Những nội dung này đang được cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu, giải trình trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.
Khi những giá trị văn hóa bản địa được tiếp nối bằng sức sáng tạo của hôm nay và tìm được cách hiện diện khác biệt trong đời sống đương đại, nguồn lực văn hóa sẽ được phát huy theo những phương thức mới, qua đó mở rộng không gian phát triển công nghiệp văn hóa trên nền tảng bản sắc và thế mạnh riêng có của mỗi vùng, miền./.