Chủ thể của hệ sinh thái sáng tạo
Văn hóa đang bước vào không gian của kinh tế thông qua khái niệm công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Con người giữ vai trò vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là nguồn lực cốt lõi và là động lực lớn nhất trong việc chuyển hóa các giá trị văn hóa. Ngược lại, mọi giá trị sáng tạo và thành quả kinh tế từ văn hóa cuối cùng đều phải phục vụ lại đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của con người.
Sự chuyển đổi tư duy chiến lược này đã được định hình rõ nét qua nhiều văn kiện của Đảng, từ Nghị quyết số 33-NQ/TW (2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đến Nghị quyết số 80-NQ/TW (2026) về phát triển văn hóa Việt Nam, đặt con người vào vị trí trung tâm, coi văn hóa là sức mạnh nội sinh nâng đỡ khát vọng vươn mình của dân tộc.
Con người giữ vai trò vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là nguồn lực cốt lõi và là động lực lớn nhất trong việc chuyển hóa các giá trị văn hóa. Ảnh: Phạm Thắng
TS. Nguyễn Tiến Thư, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phân tích, chuyển đổi số, phát triển công nghiệp văn hóa chỉ có thể thành công và bền vững khi được đặt trên nền tảng phát triển con người. Bối cảnh mở ra không gian phát triển mới, nhưng con người mới là chủ thể xác lập mục tiêu, kiến tạo thể chế, sáng tạo giá trị, vận hành hệ thống, kiểm soát rủi ro và bảo đảm định hướng nhân văn của quá trình phát triển.
“Phát triển con người không chỉ là đầu tư cho con người theo nghĩa hẹp, mà còn là quá trình giải phóng, khơi dậy và tổ chức hiệu quả các tiềm năng con người. Một quốc gia có thể sở hữu hạ tầng hiện đại, tài nguyên phong phú và thị trường rộng lớn; tuy nhiên, nếu thiếu con người có năng lực, đạo đức, khát vọng, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng, các nguồn lực ấy khó có thể chuyển hóa thành sức mạnh phát triển bền vững”, TS. Nguyễn Tiến Thư nhìn nhận.
Nhận diện thách thức, kiến tạo bứt phá
Nhận thức rõ tiềm năng kinh tế từ nguồn tài nguyên văn hóa và nguồn nhân lực dồi dào, Quyết định số 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định trọng tâm phát triển những ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt. Cùng với đó là Quyết định số 1189/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành lớp công dân sáng tạo, trách nhiệm, đóng góp điều kiện then chốt để phát huy tiềm năng và giá trị bản sắc trong tiến trình phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo.
Trên thực tế, mặc dù sở hữu kho tàng di sản đồ sộ cùng lực lượng lao động trẻ, tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu công nghiệp văn hóa ở Việt Nam vẫn đang vấp phải những lực cản mang tính hệ thống. Các Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 28/2026/QH16 yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho văn hóa, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp sáng tạo tư nhân vẫn vô vàn khó khăn. Bên cạnh đó, việc cung ứng nhân lực chất lượng cao cho một số ngành nghề, lĩnh vực cũng chưa thực sự bảo đảm…
Nhận diện những điểm nghẽn cấu trúc đã tồn tại nhiều năm, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ trình Quốc hội vào Kỳ họp tới được kỳ vọng tạo “cú hích” với các chính sách đột phá nhằm giải phóng nguồn lực con người như: cơ chế bảo lãnh tín dụng bằng tài sản trí tuệ, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), đầu tư hạ tầng số, đầu tư đào tạo nhân lực... Qua đó, đánh dấu sự chuyển dịch từ tư duy “quản lý, kiểm soát” sang “kiến tạo hành lang pháp lý”, tạo điều kiện tiên quyết để nuôi dưỡng kinh tế sáng tạo.
Nhìn nhận về tiến trình phát triển và định hình hệ giá trị con người, GS. TS. Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam đánh giá cao bước đi chiến lược khi coi văn hóa là lĩnh vực tạo ra giá trị kinh tế. Để ngành công nghiệp văn hóa bứt tốc, GS. TS. Từ Thị Loan cho rằng, phải coi nguồn nhân lực sáng tạo là yếu tố quyết định. Việc hoàn thiện thể chế, đặc biệt là khung pháp lý cho các ngành công nghiệp văn hóa thực chất cũng nhằm bảo vệ quyền và kích thích tiềm năng sáng tạo của con người. Cùng với các chính sách phát huy vai trò của doanh nghiệp và khu vực tư nhân như lực lượng nòng cốt của công nghiệp văn hóa, ưu đãi tín dụng, thuế, hỗ trợ đổi mới sáng tạo… sẽ giúp thu hút nguồn lực xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa Việt Nam.
“Khi các sản phẩm văn hóa Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, mục tiêu đóng góp 7 - 9% GDP không chỉ là con số kinh tế, mà còn là biểu hiện sinh động của sức mạnh mềm và vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới”, GS. TS. Từ Thị Loan nhận định.