Đảng và Nhà nước luôn xác định bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc là nhiệm vụ chiến lược. Mặc dù đã có nhiều chủ trương và chính sách về văn hóa dân tộc, nhưng đến nay lĩnh vực này vẫn chưa được thể chế hóa đầy đủ bằng luật hoặc nghị định chuyên ngành. Hệ thống văn bản pháp lý hỗ trợ công tác quản lý và điều hành về văn hóa các dân tộc còn chưa hoàn chỉnh, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc, nhiều không gian văn hóa không gian văn hóa truyền thống và làng, bản, buôn, phum, sóc văn hóa truyền thống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, trong đó hoàn thiện thể chế là yêu cầu cấp thiết.
Ảnh minh họa
Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ, phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa, đặc biệt là các chủ thể văn hoá nòng cốt, chủ thể văn hoá kế cận tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chưa đầy đủ, chưa đủ sức tạo động lực cho các chủ thể chủ động, tích cực tham gia các hoạt động bảo tồn và trao truyền giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng. Các quy định hiện nay tập trung vào các chính sách đối với nghệ nhân có tài năng xuất sắc, nghệ nhân có công lao bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, được hưởng chính sách, chế độ theo Luật Di sản văn hóa và Luật Thi đua, khen thưởng.
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành chưa có quy định đầy đủ, đồng bộ và mang tính đặc thù đối với công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; chưa xác định rõ cơ chế nhận diện, phân loại mức độ nguy cơ mai một giá trị văn hóa truyền thống; chưa có cơ chế hỗ trợ trực tiếp đối với chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận; chưa có cơ chế giao nhiệm vụ, khoán chi phù hợp để phát huy tính chủ động, tự lực của đồng bào các dân tộc trong quá trình phục hồi, bảo tồn và phát huy, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một, thất truyền.
Việc triển khai các chương trình vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc do thiếu cơ chế, chính sách đặc thù và đồng bộ đối với lĩnh vực bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số. Trên cơ sở nguồn ngân sách phân bổ từ trung ương, các địa phương đang áp dụng cơ chế, chính sách, quy trình, phương thức hỗ trợ khác nhau để triển khai các dự án bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc thiểu số tại các địa bàn khác nhau, dẫn đến khó quản lý, đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia.
Cho đến nay, công tác bảo tồn văn hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi chủ yếu do nhà nước đầu tư, tổ chức triển khai thực hiện; chưa có cơ chế pháp lý đầy đủ, thống nhất và ổn định để hỗ trợ trực tiếp, thường xuyên đối với các cá nhân, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số. Cơ chế huy động nguồn lực xã hội hóa chưa rõ ràng và đủ sức thu hút nguồn lực từ xã hội.
Qua đó, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, việc ban hành Nghị định quy định về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu sốlà cần thiết nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; quy định chi tiết khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Đồng thời, thiết lập cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ cho hoạt động bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; xác định cơ chế rà soát, nhận diện, phân loại và ưu tiên bảo tồn đối với các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một.
Cùng với đó, quy định chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận; cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và khoán chi phù hợp với đặc thù hoạt động văn hóa cộng đồng; Gắn bảo tồn văn hóa truyền thống với phát triển du lịch cộng đồng, sinh kế bền vững và chuyển đổi số; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong lưu trữ, số hóa, quảng bá và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, quan điểm xây dựng dự thảo Nghị định xác định trúng, đúng các chính sách mang tính then chốt tầm luật để tháo gỡ điểm nghẽn, tạo đột phá về nguồn lực, tập trung vào chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận và cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và khoán chi phù hợp với đặc thù hoạt động văn hóa cộng đồng.
Thiết kế các chính sách, quy định vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, vừa có tính đặc thù, đột phá của văn hóa theo tinh thần Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam, bảo đảm tính khả thi và nguồn lực thực hiện; Bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam và công tác dân tộc trong tình hình mới.
Đặc biệt, lấy cộng đồng các dân tộc thiểu số là chủ thể, trung tâm của hoạt động bảo tồn và phát triển văn hóa; Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển; giữa giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống với phát huy giá trị văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội; Ưu tiên bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn và có khó khăn đặc thù; địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Ngoài ra, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của địa phương trong tổ chức thực hiện; công khai, minh bạch và hiệu quả trong quản lý, sử dụng nguồn lực; Bảo đảm phù hợp với thực tiễn, khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống; Bảo đảm tính minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, tạo thuận lợi cho việc thực thi có hiệu quả công tác bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ: https://bvhttdl.gov.vn/y-kien-cho-van-ban-du-thao?dtid=7698