Thực tiễn hiện nay cho thấy, hạ tầng số trong kỷ nguyên dữ liệu đã thay đổi căn bản về bản chất. Trong giai đoạn đầu của ứng dụng công nghệ thông tin, hạ tầng số chủ yếu được hiểu là hạ tầng kỹ thuật gồm mạng truyền dẫn, trung tâm dữ liệu, hệ thống phần cứng, phần mềm và các nền tảng công nghệ phục vụ xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin. Theo cách tiếp cận này, trọng tâm phát triển hạ tầng số chủ yếu là đầu tư thiết bị, đường truyền, hệ thống lưu trữ, trung tâm dữ liệu và các nền tảng kỹ thuật.
Tuy nhiên, trong kỷ nguyên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số, bản chất của hạ tầng số đã thay đổi căn bản. Hiện nay, khả năng vận hành của môi trường số không còn được quyết định chủ yếu bởi thiết bị hoặc hạ tầng kỹ thuật mà ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và khả năng tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu. Các nền tảng số, hệ sinh thái nội dung số, thương mại số, hệ thống trí tuệ nhân tạo, mô hình sáng tạo số và các dịch vụ số hiện đại đều vận hành trên dữ liệu. Theo xu hướng này, dữ liệu ngày càng được nhìn nhận như một loại hạ tầng mới, thiết yếu và nền tảng của môi trường số.
Ảnh minh họa.
Cùng với đó, chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa cũng đặt ra yêu cầu hình thành hạ tầng văn hóa số với hạ tầng dữ liệu văn hóa số là lớp cốt lõi. Bởi lẽ, trong lĩnh vực văn hóa, chuyển đổi số không chỉ là số hóa tài liệu, hồ sơ, hiện vật hoặc đưa một số hoạt động lên môi trường mạng. Chuyển đổi số văn hóa là quá trình tái cấu trúc toàn diện hoạt động bảo tồn, sáng tạo, sản xuất, phân phối, lưu thông, thương mại hóa các sản phẩm và dịch vụ văn hoá số, tiếp cận và trải nghiệm văn hóa trên môi trường số.
Quá trình này đang làm xuất hiện một không gian văn hóa số rộng lớn, nơi các hoạt động sáng tạo, biểu diễn, điện ảnh, trò chơi điện tử, bảo tàng số, thư viện số, nền tảng nội dung số, sản phẩm văn hóa số, dịch vụ văn hóa số và các hệ thống trí tuệ nhân tạo đều vận hành dựa trên dữ liệu văn hóa số.
Trong môi trường đó, dữ liệu văn hóa số không còn chỉ là dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước, mà trở thành nguyên liệu đầu vào của sáng tạo số, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Metadata, dữ liệu di sản, dữ liệu tác phẩm nghệ thuật, dữ liệu biểu diễn, dữ liệu hành vi và trải nghiệm văn hóa, dữ liệu ngữ cảnh văn hóa và dữ liệu nội dung số đang trở thành lớp hạ tầng vận hành của toàn bộ hệ sinh thái văn hóa số.
Trên cơ sở đó, việc ban hành Nghị định về Hạ tầng văn hóa số là cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành hạ tầng dữ liệu văn hóa số thống nhất, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện lĩnh vực văn hóa và phát triển hệ sinh thái văn hóa số trong giai đoạn mới.
Dự thảo Nghị định về Hạ tầng văn hóa số được xây dựng không nhằm điều chỉnh hạ tầng CNTT hoặc hạ tầng kỹ thuật theo nghĩa truyền thống, cũng không làm lại các quy định chung về dữ liệu, đầu tư công, PPP, viễn thông, giao dịch điện tử hoặc an toàn thông tin mạng.
Mục tiêu cốt lõi của Nghị định là thiết lập khung quản trị đối với hạ tầng dữ liệu văn hóa số và hệ sinh thái văn hóa số hình thành trên hạ tầng dữ liệu đó; bảo đảm dữ liệu văn hóa số được tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, chia sẻ, khai thác và bảo vệ phù hợp với đặc thù văn hóa; đồng thời tạo điều kiện để dữ liệu văn hóa số trở thành nền tảng cho sáng tạo số, công nghiệp văn hóa, trí tuệ nhân tạo và phát triển không gian văn hóa số.
Nghị định hướng tới việc hình thành hạ tầng dữ liệu văn hóa số thống nhất, có khả năng liên thông, tái sử dụng và khai thác dùng chung trên phạm vi toàn quốc; khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa, thiếu metadata, thiếu khả năng liên thông và thiếu quản trị thống nhất trong lĩnh vực văn hóa.
Thông qua việc xác lập dữ liệu văn hóa số như một lớp hạ tầng nền tảng của môi trường văn hóa số, Nghị định tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển các nền tảng văn hóa số, sản phẩm văn hóa số, dịch vụ văn hóa số, không gian văn hóa số, công nghiệp văn hóa số và các hệ thống trí tuệ nhân tạo khai thác dữ liệu văn hóa số.
Nghị định đồng thời hướng tới mục tiêu tạo lập hệ sinh thái dữ liệu văn hóa số tin cậy (hệ sinh thái dữ liệu văn hoá tin cậy - trusted cultural data ecosystem), trong đó việc khai thác, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu được thực hiện trên cơ sở bảo đảm metadata, nguồn gốc dữ liệu, khả năng truy xuất nguồn gốc, bảo vệ ngữ cảnh văn hóa, quyền sở hữu trí tuệ và quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Ngoài ra, Nghị định còn nhằm cụ thể hóa các quy định của Quốc hội, các luật có liên quan và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển hạ tầng văn hóa số, chuyển đổi số văn hóa, công nghiệp văn hóa và phát triển không gian văn hóa số trong giai đoạn mới.
Có thể thấy, việc ban hành Nghị định là điều kiện cần thiết để chuyển hóa các định hướng chính sách thành công cụ pháp lý có khả năng thực thi, qua đó hình thành hạ tầng dữ liệu văn hóa số đồng bộ, phục vụ chuyển đổi số và phát triển công nghiệp văn hóa một cách thực chất./.