Trương Thu Trà
14/08/2026
hoatrambh@gmail.com
Tôi làm viên chức tại Trung tâm Văn hóa – Thông tin và Thể thao huyện (sau khi thực hiện chính quyền 2 cấp thì đổi lại là Trung tâm Dịch vụ, sự nghiệp công xã) với vị trí là nhân viên thư viện, ngạch cán sự (mã ngạch 01.004) được gần 20 năm. Năm 2014, tôi tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Luật, có bằng Cao đẳng Khoa học – Thư viện trước đó. Nhưng từ đó đến nay, tôi không được tham gia kỳ thi chuyển ngạch viên chức do cấp trên tổ chức theo quy định đối với viên chức các đơn vị sự nghiệp công lập Nhà nước. Đến năm 2024, tôi tốt nghiệp đại học chuyên ngành Thông tin - Thư viện và đã có chứng chỉ chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành thư viện và các loại chứng chỉ khác theo quy định. Vậy cho tôi hỏi, theo các văn bản quy phạm pháp luật mới nhất có liên quan, các quy định về sắp xếp vị trí việc làm, tôi cần phải làm những gì để được chuyển qua ngạch chuyên viên hay thăng hạng lên Thư viện viên hạng III? Hiện nay, tôi chỉ là viên chức làm công tác thư viện tại Trung tâm Dịch vụ, sự nghiệp công xã chứ không phải công tác tại thư viện độc lập nên các quy định liên quan về thư viện, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành thư viện (ngạch)… không được áp dụng tại đơn vị. Rất mong nhận được sự hỗ trợ giải đáp. Tôi chân thành cảm ơn!
Vụ Tổ chức cán bộ trả lời như sau:
Ngày 26/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy
định về vị trí việc làm viên chức (Nghị định số 232/2026/NĐ-CP); ngày
30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 259/2026/NĐ-CP quy định về tuyển
dụng, sử dụng và quản lý viên chức (Nghị định số 259/2026/NĐ-CP). Theo đó,
việc quản lý, sử dụng viên chức được thực hiện trên cơ sở vị trí việc làm, bản mô
tả công việc, khung năng lực và bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm.
Việc bố trí viên chức vào vị trí việc làm, chuyển xếp sang bậc nghề
nghiệp và thay đổi bậc nghề nghiệp được thực hiện theo vị trí việc làm đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt, yêu cầu của vị trí việc làm, năng lực của viên
chức, nhu cầu sử dụng và các điều kiện theo quy định tại Nghị định số
232/2026/NĐ-CP và Nghị định số 259/2026/NĐ-CP.
Do đó, đối với các trường hợp cụ thể nêu tại câu hỏi của bạn đọc, đề
nghị đơn vị sử dụng viên chức căn cứ vị trí việc làm được cấp có thẩm quyền
phê duyệt, hồ sơ của viên chức và các quy định nêu trên để xem xét, quyết định
hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo phân cấp quản lý
viên chức.
Trân trọng!
Trả lời ngày: 04/09/2026
Trần Thị Thu
14/08/2026
tranthithu.tvthyc@gmail.com
Căn cứ thông tư số 22/2025/ TT–BVH TTDL ngày 29/12/2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tại Mục 3, Điều 7. Tổ chức thức hiện của thông tư quy định: Cán bộ, công chức, viên chức làm các nghề, công việc quy định tại Điều 3 Thông tư này được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật theo quy định tại Thông tư số 24/2022/TT BLĐ TBXH ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định việc bồi dưỡng bằng hiện vật với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại. Bản thân tôi là nhân viên thư viện thuộc danh mục nghề, công việc quy định tại mục Điều kiện lao động loại IV phần XXVIII (thể thao, văn hóa, thông tin) Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại nguy hiểm tại Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Vậy tôi có được hưởng phụ cấp bồi dưỡng bằng hiện vật theo thông tư trên không, và cơ quan nào sẽ thực hiện chi trả, mức chi trả được xác định như thế nào?
Vụ Tổ chức cán bộ trả lời:
Theo Điều 3 Thông tư số 24/2022/TT-BLĐTBXH ngày 30/11/2022 của Bộ
trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, người lao động được hưởng bồi
dưỡng bằng hiện vật khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định, trong đó việc
xác định yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại trong môi trường lao động phải được
thực hiện bởi tổ chức đủ điều kiện hoạt động quan trắc môi trường lao động.
Mức bồi dưỡng được xác định theo Điều 4 và Phụ lục I ban hành kèm theo
Thông tư này.
Do thông tin bà Trần Thị Thu cung cấp chưa đủ cơ sở xác định điều kiện
lao động thực tế để xác định việc hưởng chế độ, đề nghị bà liên hệ cơ quan, đơn
vị trực tiếp sử dụng lao động để căn cứ kết quả quan trắc môi trường lao động và
các quy định nêu trên xem xét, thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật theo
quy định.
Trân trọng!
Trả lời ngày: 07/09/2026
Nguyễn Thanh Dũng
14/08/2026
yashainy@gmail.com
Xin cho hỏi thủ tục đổi tài khoản ký quỹ từ Ngân hàng A sang Ngân hàng B cần những thủ tục gì? Có cần thay đổi giấy phép lữ hành không? Cơ quan nào xử lý hồ sơ?
Cục Du lịch Quốc gia trả lời như sau:
Doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành khi
đảm bảo các điều kiện kinh doanh theo quy định tại Điều 31 Luật Du lịch, trong đó
có điều kiện về duy trì ký quỹ theo mức quy định được hướng dẫn cụ thể tại Điều 14
Nghị định 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật
Du lịch.
+ Khi thay đổi tài khoản ký quỹ, doanh nghiệp đảm bảo mức ký quỹ theo giấy
phép kinh doanh lữ hành đã được cấp không phải thực hiện thủ tục đổi giấy phép.
Sau khi thực hiện ký quỹ, doanh nghiệp gửi 01 bản gốc giấy chứng nhận ký quỹ về
cơ quan đã cấp giấy phép kinh doanh lữ hành.
+ Đối với doanh nghiệp đã được cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế/nội
địa, khi thay đổi phạm vi kinh doanh (có thay đổi mức ký quỹ kinh doanh lữ hành)
cần thực hiện thủ tục cấp phép lữ hành theo quy định tại Điều 33 Luật Du lịch (đối
với doanh nghiệp đã được cấp giấy phép lữ hành nội địa) hoặc Điều 35 Luật Du lịch
(đối với doanh nghiệp đã được cấp giấy phép lữ hành quốc tế).
Doanh nghiệp thực hiện thủ tục cấp phép tại trang web dichvucong.gov.vn
(thủ tục cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa/thủ tục cấp giấy phép kinh
doanh dịch vụ lữ hành quốc tế).
Trân trọng!
Trả lời ngày: 04/09/2026
Nguyễn Văn Quang
14/08/2026
quangdev2k4@gmail.com
Hiện tôi đang vận hành một máy chủ cộng đồng sử dụng nền tảng FiveM cho trò chơi GTA V bản quyền. Mô hình hoạt động hiện tại:
- Người chơi bắt buộc sở hữu GTA V bản quyền.
- Máy chủ sử dụng FiveM chính thức, không crack/bypass.
- Có hệ thống tài khoản đăng nhập riêng cho nhân vật.
- Có lưu trữ email, Discord và mật khẩu đã mã hóa (bcrypt) phục vụ đăng nhập và quản lý tài khoản.
- Máy chủ đặt trên VPS riêng.
- Có whitelist và quản lý cộng đồng riêng.
Trong thời gian tới, tôi dự định mở rộng quy mô cộng đồng và muốn tìm hiểu rõ các nghĩa vụ pháp lý liên quan tại Việt Nam. Kính mong Quý cơ quan hỗ trợ giải đáp:
1. Mô hình máy chủ FiveM/GTA V cộng đồng như trên có cần đăng ký giấy phép hoặc thủ tục quản lý nào hay không?
2. Trường hợp có nhận donate/nạp để duy trì hoạt động máy chủ thì có cần đăng ký hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp không?
3. Việc lưu trữ email/Discord/thông tin tài khoản người dùng cần đáp ứng các yêu cầu nào theo quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân?
4. Có yêu cầu nào liên quan đến quản lý trò chơi điện tử trên mạng đối với mô hình server cộng đồng sử dụng nền tảng FiveM hay không?
Rất mong nhận được phản hồi và hướng dẫn từ Quý cơ quan.
Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin
điện tử trả lời như sau:
1. Về việc máy chủ FiveM/GTA V cộng đồng có phải thực hiện thủ tục
cấp phép hay không.
Theo khoản 34 Điều 3 Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 09 tháng 11
năm 2024 của Chính phủ quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông
tin trên mạng, “dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng” là việc cung cấp cho người
chơi khả năng truy nhập vào mạng để chơi các trò chơi điện tử. Khoản 35 Điều 3
Nghị định số 147/2024/NĐ-CP quy định “doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò
chơi điện tử trên mạng” là doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam cung
cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng thông qua việc thiết lập hệ thống thiết bị
và sử dụng hợp pháp phần mềm trò chơi điện tử.
Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 37 Nghị định số 147/2024/NĐ-CP quy
định doanh nghiệp chỉ được phát hành trò chơi G1, G2, G3, G4 khi có Giấy
phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G1 trên mạng/Giấy chứng nhận cung cấp
dịch vụ trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng và Quyết định phát hành trò chơi
điện tử G1 trên mạng/Giấy xác nhận thông báo phát hành trò chơi điện tử G2,
G3, G4 trên mạng.
Như vậy, để được cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng tại Việt
Nam, chủ thể cung cấp phải đáp ứng các điều kiện về tư cách doanh nghiệp
được thành lập theo pháp luật Việt Nam, ngành nghề kinh doanh, tên miền, năng
lực tài chính, tổ chức nhân sự và hệ thống kỹ thuật đã được quy định cụ thể tại
Mục 3. TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ TRÊN MẠNG của Nghị định số 147/2024/NĐ-CP.
2. Về việc nhận “donate” hoặc nạp tiền để duy trì hoạt động máy chủ thì
có cần đăng ký hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp không
Nghị định số 147/2024/NĐ-CP không có quy định về việc nhận “donate”
hoặc nạp tiền để duy trì hoạt động máy chủ cộng đồng. Vì vậy, về việc đăng ký
hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp, đề nghị thực hiện theo quy định của pháp luật
về doanh nghiệp, thuế và pháp luật có liên quan.
3. Về thông tin tài khoản và dữ liệu của người chơi
Theo Điều 56 Nghị định số 147/2024/NĐ-CP, khi đăng ký tài khoản sử
dụng trò chơi điện tử trên mạng, người chơi phải cung cấp đầy đủ, chính xác họ
và tên, ngày, tháng, năm sinh và số điện thoại di động tại Việt Nam. Trường hợp
người chơi dưới 16 tuổi, cha, mẹ hoặc người giám hộ đăng ký tài khoản theo
quy định và có trách nhiệm giám sát, quản lý thời gian chơi và nội dung trò chơi
mà người dưới 16 tuổi truy cập.
Khoản 2 Điều 56 Nghị định số 147/2024/NĐ-CP quy định doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng phải lưu giữ thông tin người chơi
trong thời gian người chơi sử dụng dịch vụ và 06 tháng sau khi người chơi
ngừng sử dụng dịch vụ; đồng thời phải bảo đảm quyền quyết định của người
chơi đối với việc sử dụng thông tin cho mục đích quảng bá, truyền thông hoặc
cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác và thực hiện việc xác thực thông tin người
chơi theo quy định.
Như vậy, trường hợp hoạt động của máy chủ thuộc mô hình doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng thì phải thực hiện các yêu cầu nêu
trên. Đối với việc thu thập, lưu trữ và xử lý email, tài khoản Discord, mật khẩu
và các dữ liệu cá nhân khác, chủ thể xử lý dữ liệu còn phải tuân thủ quy định của
pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật có liên quan.
4. Về yêu cầu liên quan đến quản lý trò chơi điện tử trên mạng đối với mô
hình server cộng đồng sử dụng nền tảng FiveM.
Hiện nay, chỉ các doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam,
đáp ứng các điều kiện quy định tại Nghị định số 147/2024/NĐ-CP mới được
cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng. Đồng thời, các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng phải tuân thủ các quy định về trách nhiệm
tại Điều 54 của Nghị định số 147/2024/NĐ-CP./.
Trân trọng!
Trả lời ngày: 08/09/2026
Minh Khánh
14/08/2026
khanhm2304@gmail.com
Theo Nghị đinh 261/2026/NĐ-CP mới được ban hành về phụ cấp ưu đãi nghề, đối tượng áp dụng tôi thấy có viên chức chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn, viên chức hoạt động nghề nghiệp nghệ thuật biểu diễn.... Cho tôi hỏi có phải “Viên chức hoạt động nghề nghiệp nghệ thuật biểu diễn” là những viên chức không giữ các ngạch chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn nhưng có tham gia trực tiếp vào việc tập luyện, biểu diễn đúng không? Ví dụ như 1 viên chức giữ ngạch chuyên viên 01.003 làm việc trong Nhà hát nghệ thuật chuyên nghiệp và được phân công biểu diễn với vai trò Ca sĩ trong các chương trình của cơ quan. Như vậy có được là đối tượng hưởng ưu đãi nghề theo Nghị định 261/2026/NĐ-CP không?
Cục Nghệ thuật biểu diễn trả lời như sau:
Ngày 30/6/2026 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 261/2026/NĐ-CP
Quy định về phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn đối
với viên chức, người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp trong các đơn
vị sự nghiệp công lập nghệ thuật biểu diễn, đơn vị nghệ thuật biểu diễn thuộc lực
lượng vũ trang (Nghị định số 261/2026/NĐ-CP).
Theo quy định tại Nghị định số 261/2026/NĐ-CP, đối tượng hưởng phụ
cấp ưu đãi nghề gồm viên chức chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn, viên chức
hoạt động nghề nghiệp nghệ thuật biểu diễn và người lao động làm việc tại các
đơn vị sự nghiệp công lập nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi điều chỉnh của
Nghị định và trực tiếp thực hiện hoạt động nghệ thuật biểu diễn. Việc xác định
đối tượng hưởng phụ cấp cần căn cứ vào chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm
và nhiệm vụ chuyên môn được cấp có thẩm quyền giao, không chỉ căn cứ vào
việc cá nhân có tham gia một hoạt động biểu diễn cụ thể.
Đối với trường hợp bạn đọc nêu, mã số 01.003 là mã số ngạch Chuyên
viên thuộc các ngạch công chức chuyên ngành hành chính, không phải chức
danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn theo Thông tư
số 10/2022/TT-BVHTTDL. Trường hợp viên chức được bố trí vào vị trí việc
làm chuyên viên, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thuộc nhóm vị trí việc làm
dùng chung, hành chính, quản trị của đơn vị thì việc được phân công tham gia
biểu diễn với vai trò ca sĩ không phải là căn cứ để xác định người đó thuộc đối
tượng hưởng phụ cấp ưu đãi nghề theo Nghị định số 261/2026/NĐ-CP.
2
Đối với cụm từ “viên chức hoạt động nghề nghiệp nghệ thuật biểu diễn”,
cần được xem xét trong mối liên hệ với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp
và nhiệm vụ chuyên môn đặc thù của lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Theo đó, có
thể bao gồm những viên chức thực hiện các công việc chuyên môn, nghiệp vụ
đặc thù, trực tiếp phục vụ hoạt động nghệ thuật biểu diễn nhưng chức danh nghề
nghiệp chưa được quy định cụ thể tại Thông tư số 10/2022/TT-BVHTTDL mà
được xác định, dẫn chiếu theo các quy định chuyên ngành có liên quan, như các
công việc về kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, sân khấu và các nhiệm vụ chuyên
môn đặc thù khác phục vụ trực tiếp hoạt động biểu diễn. Đây không phải là
nhóm bao gồm tất cả viên chức làm việc tại các đơn vị nghệ thuật biểu diễn.
Việc xác định cụ thể viên chức thuộc nhóm “hoạt động nghề nghiệp nghệ thuật
biểu diễn” cần căn cứ vào vị trí việc làm được cấp có thẩm quyền phê duyệt,
chức danh nghề nghiệp và nhiệm vụ thực tế được giao tại đơn vị.
Trường hợp viên chức không thuộc đối tượng hưởng phụ cấp ưu đãi nghề
theo quy định nêu trên nhưng được đơn vị phân công trực tiếp tham gia luyện
tập, biểu diễn thì có thể thực hiện chế độ bồi dưỡng luyện tập, bồi dưỡng biểu
diễn theo Nghị định số 261/2026/NĐ-CP, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện và thuộc
đối tượng được hưởng theo quy định. Việc hưởng chế độ bồi dưỡng luyện tập,
biểu diễn được xác định căn cứ vào việc thực tế tham gia luyện tập, biểu diễn và
sự phân công của đơn vị, không đồng nhất với việc xác định đối tượng hưởng
phụ cấp ưu đãi nghề.
Trân trọng!
Trả lời ngày: 07/09/2026
Mặc Dung
14/08/2026
dungmac.94hlu@gmail.com
Công ty chúng tôi là doanh nghiệp Việt Nam, là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các đầu sách giáo dục. Các xuất bản phẩm của Công ty đã được Nhà xuất bản ban hành Quyết định xuất bản và được lưu hành hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của Luật Xuất bản. Hiện nay, Công ty đang nghiên cứu phương án hợp tác với đối tác nước ngoài để phát hành các xuất bản phẩm tại thị trường nước ngoài. Theo phương án dự kiến, các xuất bản phẩm sẽ được in trực tiếp tại nước ngoài nhằm tối ưu chi phí sản xuất, vận chuyển và vận hành trước khi phát hành tại thị trường nước sở tại. Qua nghiên cứu Luật Xuất bản năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) và các văn bản hướng dẫn thi hành, chúng tôi chưa tìm thấy quy định cấm việc thuê cơ sở in tại nước ngoài để in các xuất bản phẩm đã được xuất bản hợp pháp tại Việt Nam phục vụ phát hành ở nước ngoài. Tuy nhiên, chúng tôi cũng chưa tìm thấy quy định hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục và điều kiện áp dụng đối với trường hợp này. Để có cơ sở triển khai đúng quy định của pháp luật, kính đề nghị Quý Cơ quan xem xét, hướng dẫn các nội dung sau: Đối với xuất bản phẩm đã được Nhà xuất bản ban hành Quyết định xuất bản theo quy định của Luật Xuất bản, Nhà xuất bản hoặc đơn vị được Nhà xuất bản giao quyền có được phép thuê cơ sở in tại nước ngoài để thực hiện việc in xuất bản phẩm phục vụ phát hành tại thị trường nước ngoài hay không? Trường hợp được phép thuê cơ sở in tại nước ngoài, Quyết định xuất bản có phải ghi nhận hoặc chỉ định tên cơ sở in tại nước ngoài hay không? Nếu có thì việc ghi nhận được thực hiện theo hình thức nào và nội dung cần thể hiện ra sao? Trường hợp Quyết định xuất bản không ghi nhận cơ sở in tại nước ngoài, doanh nghiệp hoặc Nhà xuất bản có phải thực hiện thủ tục thông báo, xin chấp thuận hoặc thực hiện thủ tục hành chính nào khác với cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam trước khi tổ chức in tại nước ngoài hay không? Nếu có, đề nghị hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, trình tự và cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Ngoài các nội dung nêu trên, Quý Cơ quan có lưu ý hoặc hướng dẫn nào khác để việc in xuất bản phẩm tại nước ngoài và phát hành tại thị trường nước ngoài được thực hiện đúng quy định của pháp luật Việt Nam hay không? Trường hợp Quyết định xuất bản ghi phạm vi phát hành là toàn quốc, công ty liên kết như chúng tôi có được quyền phân phối hoặc khai thác thương mại xuất bản phẩm tại thị trường nước ngoài hay không hay vẫn cần có sự đồng ý của Nhà xuất bản? Kính mong Quý Cơ quan xem xét, hướng dẫn để doanh nghiệp có cơ sở triển khai hoạt động đúng quy định của pháp luật. Xin trân trọng cảm ơn!
Cục Xuất bản, In và Phát hành trả lời: Theo quy định tại Điều 43 Luật Xuất bản, xuất bản
phẩm đã được xuất bản và lưu hành hợp pháp tại Việt Nam được phép xuất khẩu
ra nước ngoài. Quy định này điều chỉnh việc đưa xuất bản phẩm từ Việt Nam ra
nước ngoài, không điều chỉnh trường hợp xuất bản phẩm được in trực tiếp tại
nước ngoài và phát hành tại nước ngoài.
Do đó, pháp luật về xuất bản của Việt Nam hiện không có quy định cụ thể
về thủ tục, điều kiện đối với việc tổ chức in trực tiếp tại nước ngoài để phát hành
tại nước ngoài. Việc ký hợp đồng, thuê cơ sở in, tổ chức sản xuất và phát hành
bản in tại nước ngoài phải tuân thủ pháp luật của quốc gia nơi thực hiện hoạt
động in và phát hành, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở
hữu quyền tác giả, các bên liên quan theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào Điều 2 Luật Xuất bản thì: “ Luật này áp dụng
đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức nước ngoài hoạt động
trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam có liên quan
đến hoạt động xuất bản.”. Vì vậy, đối với các hoạt động được thực hiện hoàn
toàn ngoài lãnh thổ Việt Nam, đề nghị doanh nghiệp nghiên cứu và thực hiện
theo quy định của pháp luật nước sở tại, đồng thời tuân thủ các quy định của
pháp luật Việt Nam có liên quan trong trường hợp hoạt động đó có phát sinh
quyền, nghĩa vụ hoặc quan hệ pháp lý thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật
Việt Nam./.
Trân trọng!
Trả lời ngày: 09/09/2026
Trần Thị Bích Thanh
31/07/2026
thanh.tran.thi.bich@effem.com
Kính gửi Quý Cơ quan,
Liên quan đến quy định về việc sử dụng các từ ngữ mang tính khẳng định về mức độ cao nhất trong hoạt động quảng cáo, tôi có một số nội dung cần được hướng dẫn như sau:
Theo khoản 11 Điều 8 Luật Quảng cáo, một trong các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo là: “Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ ‘nhất’, ‘duy nhất’, ‘tốt nhất’, ‘số một’ hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.”
Theo Thông tư 12/2026/TT-BVHTTDL, tài liệu hợp pháp để chứng minh các nội dung nêu trên bao gồm kết quả khảo sát thị trường của tổ chức nghiên cứu thị trường hoặc giấy chứng nhận do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp.
Trong thực tế, doanh nghiệp có thể có nhu cầu sử dụng các tuyên bố mang tính so sánh về mức độ tốt nhất trong phạm vi chính sản phẩm, công thức hoặc nhãn hàng của doanh nghiệp, thay vì so sánh với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Ví dụ, doanh nghiệp phát triển một công thức mới của sản phẩm X và muốn sử dụng nội dung quảng cáo: “Công thức X ngon nhất từ trước đến nay”
(“X is our best-ever recipe”).
Trong trường hợp này, “ngon nhất” được hiểu là so sánh sản phẩm/công thức X hiện tại với các phiên bản/công thức trước đây của cùng sản phẩm hoặc cùng nhãn hàng, không nhằm khẳng định sản phẩm X là sản phẩm ngon nhất so với tất cả các sản phẩm cùng loại trên thị trường.
Kính đề nghị Quý Cơ quan hướng dẫn:
1. Trường hợp nêu trên có được xem là việc sử dụng từ ngữ “nhất” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự theo khoản 11 Điều 8 Luật Quảng cáo hay không?
2. Trong trường hợp được xem là thuộc phạm vi của quy định này, nghiên cứu/khảo sát nội bộ do chính doanh nghiệp sở hữu sản phẩm thực hiện theo phương pháp khoa học, có tiêu chí đánh giá, phương pháp nghiên cứu, cỡ mẫu, kết quả và dữ liệu chứng minh rõ ràng, doanh nghiệp có thể sử dụng kết quả này để chứng minh cho claim “Công thức X ngon nhất từ trước đến nay” hay không?
Rất mong nhận được ý kiến hướng dẫn của Quý Cơ quan để doanh nghiệp có cơ sở thực hiện đúng quy định pháp luật về quảng cáo.
Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện nhận được câu hỏi của bạn đọc Trần Thị Bích Thanh như sau:
Đối với việc sử dụng cụm từ “Công thức X ngon nhất từ trước đến nay”, nội dung này không thể hiện rõ việc so sánh chỉ giới hạn giữa các công thức của cùng sản phẩm, cùng nhãn hàng, nên có thể được hiểu là công thức X “ngon nhất” so với sản phẩm, nhãn hàng khác trên thị trường. Do đó, việc sử dụng cụm từ “nhất” phải đáp ứng quy định tại khoản 11 Điều 8 Luật Quảng cáo và có tài liệu hợp pháp chứng minh theo khoản 2 Điều 3 Thông tư số 12/2026/TT-BVHTTDL.
Trân trọng!
Trả lời ngày: 21/08/2026
Nguyễn Trung Dũng
29/07/2026
sapactv@gmail.com
Đề nghị Bộ hướng dẫn: Đối với viên chức hiện đang giữ chức danh nghề nghiệp Tuyên truyền viên văn hóa trung cấp (mã số V.10.10.36), khi thực hiện bổ nhiệm theo bậc nghề nghiệp quy định tại Điều 24 Luật Viên chức năm 2025, Điều 25 Nghị định số 259/2026/NĐ-CP và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, nếu đã đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của bậc nghề nghiệp bậc 3, vị trí việc làm của đơn vị chỉ được phê duyệt từ bậc nghề nghiệp bậc 3 đến bậc 4 (không có bậc 1, bậc 2) và đơn vị có nhu cầu sử dụng, thì viên chức có được bổ nhiệm ngay vào bậc nghề nghiệp bậc 3 hay không?
Vụ Tổ chức cán bộ trả lời như sau:
Ngày 26/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy
định về vị trí việc làm viên chức (Nghị định số 232/2026/NĐ-CP); ngày
30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 259/2026/NĐ-CP quy định về tuyển
dụng, sử dụng và quản lý viên chức (Nghị định số 259/2026/NĐ-CP).
Theo đó, việc quản lý, sử dụng viên chức được thực hiện trên cơ sở vị trí việc làm, bản mô
tả công việc, khung năng lực và bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm.
Việc bố trí viên chức vào vị trí việc làm, chuyển xếp sang bậc nghề
nghiệp và thay đổi bậc nghề nghiệp được thực hiện theo vị trí việc làm đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt, yêu cầu của vị trí việc làm, năng lực của viên
chức, nhu cầu sử dụng và các điều kiện theo quy định tại Nghị định số
232/2026/NĐ-CP và Nghị định số 259/2026/NĐ-CP.
Do đó, đối với các trường hợp cụ thể nêu tại câu hỏi của bạn đọc, đề
nghị đơn vị sử dụng viên chức căn cứ vị trí việc làm được cấp có thẩm quyền
phê duyệt, hồ sơ của viên chức và các quy định nêu trên để xem xét, quyết định
hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo phân cấp quản lý
viên chức./.
Trân trọng!
Trả lời ngày: 04/09/2026
Lê Thị Khánh Trân
28/07/2026
khanhtran2823@gmail.com
Kính gửi cơ quan,
Công ty của tôi có nhu cầu in nội dung quảng cáo (logo thương hiệu, tên cửa hàng, logo đối tác phân phối sản phẩm, sản phẩm kinh doanh) lên phần rũ của mái hiên di động được gắn trước mặt tiền cửa hàng.
Xin hỏi: Trường hợp này có phải thực hiện thủ tục thông báo sản phẩm quảng cáo theo quy định tại Điều 30 Luật Quảng cáo hay không?
Rất mong nhận được phản hồi từ Quý cơ quan.
Xin trân trọng cảm ơn.
Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện nhận được câu hỏi của bạn đọc Lê Thị Khánh Trân như sau:
Theo khoản 1 Điều 30 Luật Quảng cáo, thủ tục thông báo sản phẩm quảng cáo được áp dụng đối với trường hợp quảng cáo trên bảng quảng cáo, băng-rôn. Theo đó, việc thể hiện nội dung quảng cáo trực tiếp trên phần rũ của mái hiên di động không thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục thông báo sản phẩm quảng cáo theo Điều 30 Luật Quảng cáo, nếu mái hiên này không được thiết kế, lắp đặt dưới hình thức bảng quảng cáo hoặc băng-rôn.
Tổ chức, cá nhân khi thực hiện quảng cáo có trách nhiệm tuân thủ các quy định của Luật Quảng cáo và pháp luật có liên quan; bảo đảm nội dung, hình thức và phương tiện quảng cáo không thuộc các trường hợp bị cấm theo quy định của pháp luật.
Trân trọng!
Trả lời ngày: 21/08/2026
Lê Chung Thành
08/07/2026
ch.thanhmst@gmail.com
Kính gửi: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Theo quy định hiện hành, các trường trung cấp và cao đẳng thuộc khối Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch có được xác định là trường năng khiếu hay không?
Kính đề nghị Bộ cho biết căn cứ pháp lý xác định loại hình "trường năng khiếu" và hướng dẫn việc áp dụng đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và du lịch; đồng thời cho biết các trường này có thuộc đối tượng áp dụng các quy định dành cho trường năng khiếu theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành hay không ?
Kính đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, hướng dẫn để các trường có căn cứ thực hiện đúng quy định.
Xin trân trọng cảm ơn!
Vụ Khoa học công nghệ, Đào tạo và Môi trường trả lời như sau:
1. Về căn cứ pháp lý xác định trường năng khiếu
Khoản 1 Điều 62 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm
2019, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 123/2025/QH15 ngày
10 tháng 12 năm 2025, quy định trường năng khiếu nghệ thuật, thể dục, thể thao
và các trường năng khiếu khác được thành lập nhằm phát hiện, bồi dưỡng, phát
triển tài năng, kỹ năng chuyên sâu của học sinh trong các lĩnh vực tương ứng.
Điều 62 thuộc Mục 2 Chương III của Luật Giáo dục về trường chuyên biệt và cơ
sở giáo dục khác.
Mục 5 Chương V Nghị định số 125/2024/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm
2024 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo
dục quy định cụ thể điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập
và cho phép hoạt động giáo dục đối với trường năng khiếu nghệ thuật, thể dục,
thể thao từ Điều 75 đến Điều 79. Theo Điều 77 Nghị định này, trường năng khiếu
được cho phép hoạt động giáo dục khi đáp ứng các điều kiện hoạt động giáo dục
tương ứng với từng cấp học; các điều kiện đặc thù về đội ngũ giáo viên, huấn
luyện viên, cơ sở vật chất, thiết bị và các điều kiện phục vụ việc đào tạo, bồi dưỡng
năng khiếu cho học sinh.
2. Đối với trường trung cấp, trường cao đẳng thuộc lĩnh vực văn hóa,
nghệ thuật và du lịch
Khoản 2 Điều 7 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 ngày 10
tháng 12 năm 2025 của Quốc hội quy định cơ sở giáo dục nghề nghiệp gồm trường
cao đẳng, trường trung cấp và trường trung học nghề; các cơ sở này thực hiện các
chương trình giáo dục nghề nghiệp theo chức năng và trình độ đào tạo được pháp
luật quy định.
Điều 3 Nghị định số 95/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định tên cơ
sở giáo dục nghề nghiệp phải thể hiện đúng loại hình pháp lý, quyền cấp bằng và
trình độ đào tạo, không gây hiểu nhầm về mô hình, phạm vi hoạt động hoặc vị thế
của cơ sở; phần xác định mô hình cơ sở giáo dục nghề nghiệp được thể hiện bằng
cụm từ “Trường Cao đẳng”, “Trường Trung cấp”, “Trường trung học”, còn tên
riêng của trường trung cấp, trường cao đẳng có thể gắn với lĩnh vực hoặc nhóm
ngành, nghề đào tạo chính.
Từ các quy định nêu trên, việc trường trung cấp, trường cao đẳng hoạt
động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và du lịch, đào tạo ngành, nghề có yêu
cầu năng khiếu hoặc có đặc thù về tuyển sinh, đào tạo không phải là căn cứ để xác
định cơ sở đó là trường năng khiếu. Việc xác định một cơ sở giáo dục là trường
năng khiếu phải căn cứ vào cơ sở pháp lý về thành lập hoặc cho phép thành lập,
chức năng, nhiệm vụ và việc đáp ứng các điều kiện tổ chức, hoạt động theo quy
định của pháp luật đối với trường năng khiếu.
3. Về áp dụng các chế độ, chính sách dành cho trường năng khiếu
Điều 3 Nghị định số 182/2026/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2026 của
Chính phủ quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ
quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục công tác trong các cơ sở giáo
dục công lập, quy định các mức phụ cấp riêng đối với từng nhóm đối tượng. Theo
đó, nhà giáo giảng dạy lý thuyết hoặc thực hành trong trường cao đẳng, trường
trung cấp được áp dụng mức phụ cấp 30% và một số trường hợp đặc thù được áp
dụng mức 40%; nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công tác tại trường năng
khiếu thể dục, thể thao, trường năng khiếu nghệ thuật được áp dụng mức phụ cấp
60%. Quy định này cho thấy trường cao đẳng, trường trung cấp và trường năng
khiếu được xác định thành các nhóm riêng khi quy định đối tượng và mức hưởng
chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề.
Như vậy, theo quy định hiện hành, trường trung cấp, trường cao đẳng
thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và du lịch được xác định là cơ sở giáo dục
nghề nghiệp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, không thuộc trường năng khiếu quy
định tại Điều 62 Luật Giáo dục và Mục 5 Chương V Nghị định số 125/2024/NĐCP.
Việc đào tạo ngành, nghề có yêu cầu năng khiếu hoặc có đặc thù trong tuyển
sinh, đào tạo không phải là căn cứ để xác định trường trung cấp, trường cao đẳng
là trường năng khiếu theo quy định của pháp luật.
Theo đó, các trường trung cấp, trường cao đẳng thuộc lĩnh vực văn hóa,
nghệ thuật và du lịch không thuộc đối tượng áp dụng các chế độ, chính sách được
quy định riêng cho trường năng khiếu, trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp
luật có quy định khác. Việc áp dụng từng chế độ, chính sách cụ thể thực hiện theo
phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và điều kiện quy định tại văn bản pháp luật
có liên quan.
Trân trọng!
Trả lời ngày: 11/08/2026