Du khách tham quan đường hoa tại di sản Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội). Ảnh: TL
Hài hòa giữa bảo tồn và phát triển
Việt Nam hiện có 9 Di sản thế giới được UNESCO ghi danh. Nhìn lại hành trình phát huy giá trị của các di sản, GS.TS Nguyễn Văn Kim - Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia nhận định, thời gian qua có những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - du lịch ở nhiều địa phương như Tràng An (Ninh Bình), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) hay Quần thể di tích Cố đô Huế... Theo ông Kim, hiếm có nguồn lực nào vừa tạo doanh thu lớn, vừa góp phần nâng tầm hình ảnh quốc gia như vậy.
Đơn cử, sau hơn 10 năm được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới, Quần thể Danh thắng Tràng An trở thành minh chứng cho khả năng chuyển hóa giá trị di sản thành động lực phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững. Chia sẻ tại hội thảo khoa học “Kinh tế di sản: Từ lý thuyết đến chính sách và thực tiễn phát triển bền vững” mới đây, ông Phạm Sinh Khánh - đại diện Ban Quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An cho biết, di sản này đã thực sự trở thành “trái tim” của tỉnh Ninh Bình. Từ một vùng đất giàu giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan, nơi đây trở thành điểm đến hấp dẫn, tạo sinh kế cho cộng đồng, phát triển kinh tế - xã hội địa phương, lan tỏa bản sắc. Thành công ấy đến từ mô hình hợp tác gồm nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân. Đặc biệt, phát triển du lịch phải quay trở lại bảo tồn, và từ bảo tồn tiếp tục tạo động lực cho du lịch.
Còn tại Hà Nội, theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, Hà Nội định hướng hình thành vòng cung xanh - tâm linh ở phía Tây và phía Nam. Không gian này đóng vai trò vùng đệm sinh thái chiến lược, kết nối các điểm ở Hà Nội như Đền Gióng, vườn quốc gia Ba Vì, khu vực Viên Nam, Lương Sơn, Quan Sơn - Hồng Sơn và Hương Tích (Chùa Hương) đến khu du lịch Tam Chúc, quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình).
Tìm những mô hình phát triển phù hợp
Việc khai thác giá trị di sản cũng đang đối diện không ít thách thức. Theo GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung - Khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, thực tế là không ít di sản khảo cổ dù đã được ghi danh vẫn rơi vào tình trạng “đóng băng”, chưa tìm được hướng khai thác phù hợp. Bên cạnh đó, hiện nay việc đánh giá vẫn thiên về doanh thu du lịch, chưa nhìn nhận đầy đủ tác động ngược của du lịch tới di sản và cộng đồng.
Còn PGS.TS Phạm Hồng Long - Khoa Du lịch, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn nhìn nhận, áp lực du lịch đang tác động đến nhiều di sản, và cộng đồng sở hữu. Ở một số địa phương, bản sắc bị biến thành sự trình diễn phục vụ du lịch; xuất hiện tình trạng các nhà đầu tư bên ngoài mua, thuê nhà, khai thác kinh doanh, trong khi cộng đồng bản địa chỉ đóng vai trò lao động dịch vụ.
TS Nguyễn Việt Hà - Khoa Du lịch học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn nhấn mạnh yêu cầu chuyển dịch tư duy từ “khai thác tài nguyên” ngắn hạn sang “quản trị vốn văn hóa” dài hạn; thiết kế cấu hình phát triển linh hoạt theo đặc thù; đa dạng hóa công cụ tài chính, trong đó có đối tác công - tư; đồng thời thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng chủ thể.
Những phân tích trên cho thấy, phát triển kinh tế di sản không phải là tách di sản khỏi bản chất văn hóa của nó, mà là tìm cách phát huy giá trị văn hóa trong những mô hình phát triển phù hợp. Di sản vì thế không chỉ là đối tượng cần bảo vệ, mà còn là nguồn lực nội sinh của nền kinh tế sáng tạo, của phát triển địa phương và của sức mạnh mềm quốc gia.