Một trong những định hướng xuyên suốt của Nghị quyết là xác định văn hóa, bản sắc và chất lượng trải nghiệm là nền tảng, lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam, đồng thời đặt du lịch trong một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, có quan hệ cộng hưởng với nhiều ngành, lĩnh vực khác. Trong đó, công nghiệp văn hóa có mối quan hệ mật thiết với du lịch, vừa là nguồn cung nội dung, vừa là lĩnh vực thụ hưởng từ chính sự phát triển của du lịch.
Theo nhiều chuyên gia, mối quan hệ giữa du lịch và công nghiệp văn hóa không phải là sự cộng gộp cơ học, mà có thể hình thành một cấu trúc cộng sinh hai chiều.
Du lịch và Công nghiệp văn hóa có mối quan hệ mật thiết. (Ảnh: VEC)
MICE và công nghiệp văn hóa: Quan hệ cộng sinh hai chiều
Trong 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết 26, việc phát triển các sản phẩm du lịch hội nghị, sự kiện, lễ hội (MICE) được xác định là một hướng đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch.
Theo Tiến sĩ Đỗ Quang Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam, tiềm năng của phân khúc này tại Việt Nam là rất lớn, bởi đây là dòng khách có mức chi tiêu cao, thời gian lưu trú dài và nhu cầu trải nghiệm sâu hơn so với khách du lịch thông thường. Nếu được đầu tư đúng mức về hạ tầng và năng lực tổ chức, MICE hoàn toàn có thể trở thành một động lực tăng trưởng mới của du lịch.
Tuy nhiên, từ kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực sự kiện, hội chợ, triển lãm, ông Minh nhấn mạnh, MICE và công nghiệp văn hóa là hai lĩnh vực có mối quan hệ chặt chẽ. Các sự kiện như hội nghị, concert âm nhạc, giải thi đấu thể thao, triển lãm, cho đến trải nghiệm ẩm thực, quà tặng lưu niệm văn hóa đều có thể trở thành nội dung tạo nên sức hấp dẫn của một sự kiện MICE.
“Đây là mối quan hệ cộng sinh hai chiều, trong đó MICE tạo ra dòng khách và ngân sách chi tiêu lớn, còn công nghiệp văn hóa cung cấp nội dung để thu hút, giữ chân và tạo giá trị gia tăng cho dòng khách đó”, Tiến sĩ Đỗ Quang Minh phân tích.
Theo ông, điều Việt Nam còn thiếu và cũng là vấn đề được kỳ vọng sẽ được giải quyết trong quá trình triển khai Nghị quyết 26 là một cơ quan đầu mối thống nhất, đảm nhiệm việc cung cấp thông tin, hỗ trợ thủ tục, pháp lý, tài chính, đồng thời xúc tiến thu hút các sự kiện quốc tế và các đoàn khách MICE về Việt Nam. Đây là mô hình đã được triển khai tại một số quốc gia trong khu vực, như Cơ quan Hội nghị và Triển lãm Thái Lan (TCEB), SECB của Singapore hay MyCEB của Malaysia.
Ông Minh cho biết, tại Diễn đàn du lịch cấp cao trong khuôn khổ Hội chợ Du lịch Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh (ITE HCMC 2026) vừa qua, nội dung này đã được đưa ra thảo luận. Một số đối tác quốc tế, trong đó có Hiệp hội Du lịch Châu Á, Thái Bình Dương (PATA), đã bày tỏ mong muốn sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam xây dựng cơ chế đầu mối này, nhằm tạo thêm động lực cho du lịch MICE.
Từ khu sản xuất đến điểm đến: Cộng sinh trong không gian
Một điểm nhấn khác của Nghị quyết 26 là chủ trương khuyến khích hình thành các tổ hợp du lịch, văn hóa, thể thao, giải trí quy mô lớn.
Theo Tiến sĩ Đỗ Quang Minh, đây là hướng đi phù hợp với chính đặc thù kinh tế của công nghiệp văn hóa. Ông phân tích, khác với nhiều ngành sản xuất truyền thống, nơi nhà máy sản xuất ở một nơi, hàng hóa được vận chuyển đến nơi khác để tiêu thụ, công nghiệp văn hóa có đặc thù là quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng có thể diễn ra ngay tại cùng một địa điểm, cùng một thời điểm. Có thể kể đến một buổi biểu diễn nghệ thuật, một trường quay mở cửa cho khách tham quan hay một triển lãm đa phương tiện.
Khách quốc tế thích thú khám phá Vịnh Hạ Long. (Ảnh: THẾ ĐẠI)
“Chính vì vậy, việc thiết kế các khu, cụm sản xuất công nghiệp văn hóa thành các tổ hợp du lịch, văn hóa, thể thao, giải trí không chỉ khả thi mà còn tối ưu hóa nguồn lực ngay tại chỗ”, ông Minh nhận định.
Theo ông, các ngành công nghiệp văn hóa còn có tính mạng lưới cao. Việc tập trung thành các cụm, khu lớn sẽ giúp giảm chi phí kết nối, tăng tốc độ sáng tạo và tạo ra hiệu ứng lan tỏa mà các cơ sở đơn lẻ, rải rác khó có được.
Ông Minh cũng cho hay, do hội tụ cả sản xuất và trải nghiệm tại chỗ, những tổ hợp như vậy hoàn toàn có tiềm năng trở thành điểm đến du lịch trọng điểm của địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò một khu chức năng phục vụ ngành. Một tổ hợp có trường quay, sân khấu biểu diễn, không gian thiết kế mở cho công chúng tham quan sẽ tự tạo ra lý do để du khách ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn, từ đó kéo theo chuỗi dịch vụ lưu trú, ăn uống, bán lẻ chung quanh.
“Với nhiều địa phương có lợi thế về văn hóa, hoàn toàn có thể coi đây là hướng phát triển đột phá mới. Thậm chí, một khu công nghiệp sáng tạo văn hóa có thể trở thành hạt nhân phát triển kinh tế-xã hội của cả vùng, chứ không chỉ là một dự án đầu tư đơn lẻ”, ông Minh khẳng định.
Bài học đối chiếu giữa hai ngành
Một trong những điểm được chú ý của Nghị quyết 26 là các chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể được đặt ra cho ngành du lịch. Về việc liệu công nghiệp văn hóa có nên có những mục tiêu kinh tế rõ ràng, đo lường được tương tự hay không, Tiến sĩ Đỗ Quang Minh cho biết, Đảng và Nhà nước trên thực tế đã có những mục tiêu định lượng cụ thể cho lĩnh vực này.
Ông dẫn chứng, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và đến năm 2045 là 9%.
Theo ông Minh, việc lượng hóa các mục tiêu phát triển và xây dựng các kịch bản tăng trưởng chi tiết là yêu cầu tất yếu. “Nếu phát triển công nghiệp văn hóa chỉ dừng ở những phát biểu định tính thì rất khó để phân bổ nguồn lực, giao trách nhiệm cho từng bộ, ngành, địa phương, và cũng khó biết là mình đang làm tốt hay chưa, đang ở vị trí nào”, ông phân tích.
Tín hiệu đáng chú ý, theo ông Minh, là hiện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế, song song với kịch bản tăng trưởng cho các ngành đến năm 2030. Dự kiến, cả hai nội dung sẽ sớm được ban hành trong thời gian tới.
Tuy nhiên, ông Minh cũng lưu ý, công nghiệp văn hóa là lĩnh vực phức tạp hơn du lịch, bởi bao gồm nhiều ngành khác nhau và do nhiều cơ quan quản lý nhà nước phụ trách. Do đó, các chỉ tiêu, mục tiêu không nên dừng ở một con số tỷ lệ đóng góp GDP chung, mà cần được phân theo từng lĩnh vực trọng tâm, có lộ trình theo từng giai đoạn.
“Dù có thể giai đoạn đầu còn nhiều vấn đề cần thảo luận như phạm vi các ngành, phương pháp đo lường, tính đặc thù địa phương... nhưng việc có mục tiêu và công cụ theo dõi vẫn tốt hơn nhiều so với việc thả nổi”, ông Minh nhấn mạnh.
Đặt trong tinh thần của Nghị quyết 26-NQ/TW về việc lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam, hai góc nhìn, một từ phía hoạch định và thực thi chính sách, một từ phía thực hành sáng tạo, cho thấy con đường để du lịch và công nghiệp văn hóa thực sự song hành sẽ không chỉ nằm ở những con số tăng trưởng, mà còn ở cách cả hệ thống, từ cơ quan quản lý đến từng người làm nghề, nhìn nhận và đối xử với di sản văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên mới.