Khung kiến trúc số Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phiên bản 1.1 (VHTTDL) được xây dựng nhằm thiết lập nền tảng thống nhất, định hướng tổng thể cho việc xây dựng và phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch một cách đồng bộ, hiện đại, hiệu quả, phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số ban hành kèm theo Quyết định số 1425/QĐ-TTg; Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia và các chiến lược, định hướng phát triển quốc gia, chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch, báo chí, xuất bản, in và phát hành, phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại và các lĩnh vực liên quan khác trên cơ sở ứng dụng công nghệ số, đổi mới mô hình hoạt động, tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ dựa trên dữ liệu số.
Công chúng trải nghiệm phim trường số tại Triển lãm Thành tựu kinh tế - xã hội nhân dịp kỷ niệm 80 nă Ngày Quốc khánh
Đồng thời, Khung kiến trúc số thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện ngành văn hóa, thể thao và du lịch, hướng tới xây dựng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch số hoạt động hiệu quả, minh bạch; phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, du lịch thông minh, thể thao số gắn với bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong môi trường số.
Khung kiến trúc số cũng hướng tới nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, bảo đảm người dân và doanh nghiệp được tiếp cận các dịch vụ của Bộ một cách thuận tiện; Bảo đảm khả năng kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu thông suốt, an toàn giữa các đơn vị trong Bộ, giữa Bộ với các Cơ sở dữ liệu quốc gia,… Đây cũng là cơ sở để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức triển khai, theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả việc thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch, dự án ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tại các đơn vị thuộc Bộ.
Khung kiến trúc số Bộ VHTTDL áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; chủ đầu tư, đơn vị quản lý vận hành, đơn vị sử dụng, đơn vị tư vấn và các bên tham gia đầu tư, thuê dịch vụ, xây dựng, nâng cấp, vận hành hoặc khai thác các thành phần số thuộc phạm vi của Khung.
Về nguyên tắc và cấu trúc Khung kiến trúc số
Khung kiến trúc số quán triệt và tuân thủ 07 nguyên tắc cốt lõi của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, chuyển dịch từ tư duy “quản lý hành chính” sang “quản trị phát triển”, gồm: Quản trị trên cơ sở định lượng, đo lường và kiểm chứng được kết quả; Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực; Vận hành thông minh và tự động hóa trên cơ sở ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First); Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trên nền tảng số; Lấy người dùng làm trung tâm với hệ thống dịch vụ hợp nhất; Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt; Thúc đẩy phát triển dữ liệu mở, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đổi mới sáng tạo.
Về cấu trúc, Khung kiến trúc số của Bộ được tổ chức thống nhất theo 04 lớp (Hạ tầng số và an ninh mạng dùng chung; Dữ liệu và nền tảng lõi; Ứng dụng và nghiệp vụ dùng chung; Kênh tương tác và đo lường hiệu quả) và 04 thành phần xuyên suốt áp dụng cho cả 04 lớp: Quản trị, điều phối và giám sát kiến trúc; Tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu kỹ thuật chung; Ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First); Lấy dữ liệu làm trung tâm (Data-Centric).
An ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời của mọi thành phần, không phải một lớp hoặc thành phần xuyên suốt bổ sung.
Các nguyên tắc đặc thù của ngành văn hóa, thể thao và du lịch
Bên cạnh các nguyên tắc chung, Khung kiến trúc số xác định một số nguyên tắc đặc thù phù hợp với yêu cầu quản lý và phát triển ngành văn hóa, thể thao và du lịch.
Đó là, kế thừa và hợp nhất sau sắp xếp tổ chức bộ máy: kiến trúc kế thừa hệ thống, cơ sở dữ liệu đã có và tiếp nhận từ các lĩnh vực mới theo Nghị định số 298/2026/NĐ-CP; xác định lộ trình hợp nhất, thay thế hoặc kết thúc sử dụng thành phần trùng lặp.
Bảo đảm năng lực cho dữ liệu đa phương tiện dung lượng lớn: tư liệu số hóa di sản, hiện vật bảo tàng, mô hình 3D, tài nguyên thư viện, tư liệu điện ảnh và nghe nhìn, xuất bản phẩm điện tử, dữ liệu phát thanh, truyền hình.
Việc số hóa theo chuẩn thống nhất, tuân thủ tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật của cơ quan có thẩm quyền và định mức kinh tế - kỹ thuật về số hóa của Bộ; không số hóa theo chuẩn riêng của từng đơn vị.
Đặc biệt, tôn trọng quyền tác giả, quyền liên quan trong tạo lập, chia sẻ, mở dữ liệu và sử dụng tài nguyên số của ngành.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân nhạy cảm đặc thù: dữ liệu y tế, sức khỏe vận động viên; dữ liệu nhà báo; hồ sơ nghệ sĩ, nghệ nhân phải tách lưu trữ, mã hóa, hạn chế và ghi nhật ký truy cập, bên cạnh phân loại theo Nghị định số 165/2025/NĐ-CP.
Đối với chủ quyền văn hóa số, dùng dữ liệu ngành huấn luyện mô hình trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm đạo đức dữ liệu, kiểm soát chất lượng đầu vào, kiểm chứng đầu ra, ghi nhật ký và cơ chế chịu trách nhiệm; quyết định cuối cùng do con người thực hiện.
Để đảm bảo thống nhất Trung ương - địa phương, một chức năng nghiệp vụ chỉ có một nền tảng dùng chung do Bộ vận hành ở cấp Trung ương; địa phương khai thác qua phân hệ địa phương hoặc kết nối chia sẻ dữ liệu, không đầu tư trùng lặp.