Văn bản hợp nhất Nghị định số 131/2022/NĐ-CP ngày 31/12/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện ảnh với nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 116/2026/NĐ-CP ngày 2/4/2026 của Chính phủ. Nghị định số 131/2022/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/1/2023; Nghị định số 116/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 8/4/2026.
Rút ngắn thời hạn công nhận đủ điều kiện phân loại phim trên không gian mạng
Theo nội dung sửa đổi tại Điều 27 Nghị định số 116/2026/NĐ-CP, thời hạn giải quyết thủ tục công nhận đủ điều kiện phân loại phim phổ biến trên không gian mạng được điều chỉnh từ 15 ngày xuống còn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Trong thời hạn này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh của Bộ VHTTDL tiếp nhận báo cáo, trả lời bằng văn bản và đăng tải công khai tên doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức đủ điều kiện trên Hệ thống dữ liệu về phân loại phim trên không gian mạng. Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do.
Để thực hiện phân loại phim, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức phải có hội đồng phân loại phim hoặc phần mềm kỹ thuật hoặc cơ chế thực hiện việc phân loại theo quy định của Việt Nam và chịu trách nhiệm về kết quả. Đồng thời, phải có phương án sửa đổi, cập nhật kết quả phân loại; phương án kỹ thuật và quy trình tạm dừng phổ biến, gỡ bỏ phim theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Hồ sơ gồm tài liệu cung cấp đầu mối, thông tin liên hệ để tiếp nhận, xử lý yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và báo cáo thuyết minh việc đáp ứng các điều kiện. Một bộ hồ sơ được nộp qua Cổng dịch vụ công quốc gia, đường bưu điện hoặc trực tiếp đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh của Bộ VHTTDL.
Trước khi phổ biến phim trên không gian mạng, đơn vị thực hiện phải thông báo danh sách phim và kết quả phân loại thông qua Hệ thống dữ liệu về phân loại phim trên không gian mạng.
Ảnh minh họa/VOV
Bảo vệ trẻ em, xử lý phim vi phạm trên không gian mạng
Văn bản quy định doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức phổ biến phim trên không gian mạng phải thiết lập biện pháp kỹ thuật để cha, mẹ hoặc người giám hộ kiểm soát, quản lý, bảo đảm trẻ em xem phim phù hợp với độ tuổi.
Các biện pháp có thể gồm cơ chế tài khoản đa người dùng với tài khoản dành riêng cho trẻ em; thông báo xác nhận độ tuổi khi truy cập phim gắn nhãn không dành cho trẻ em hoặc biện pháp có tính chất tương tự. Hướng dẫn sử dụng phải được công khai trên ứng dụng hoặc trang thông tin điện tử; các biện pháp phải rõ ràng, minh bạch, dễ sử dụng.
Đơn vị phổ biến phim cũng phải thiết lập công cụ để người sử dụng phản ánh, khiếu nại, báo cáo phim vi phạm. Việc xử lý phải được thực hiện chậm nhất trong 48 giờ kể từ khi nhận được phản ánh, khiếu nại, báo cáo có căn cứ cụ thể, rõ ràng và kèm thông tin liên hệ.
Sau khi tiếp nhận yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, đơn vị phổ biến phim phải dừng, gỡ bỏ phim chậm nhất trong 24 giờ đối với phim có nội dung bị nghiêm cấm theo Điều 9 Luật Điện ảnh và pháp luật liên quan; trong vòng 3 đến 5 ngày đối với các nội dung vi phạm khác.
Tổ chức, doanh nghiệp có nền tảng truyền thông số phải ngăn chặn, gỡ bỏ phim vi phạm chậm nhất trong 24 giờ kể từ thời điểm có yêu cầu. Tổ chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông phải triển khai biện pháp ngăn chặn truy cập phim vi phạm, hoàn thành chậm nhất không quá 3 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu.
Bảo đảm tỷ lệ phim Việt Nam và hỗ trợ ứng dụng công nghệ
Đối với hệ thống rạp chiếu phim, từ ngày 1/1/2026, tỷ lệ suất chiếu phim Việt Nam phải đạt ít nhất 20% tổng số suất chiếu trong năm. Phim Việt Nam được ưu tiên chiếu trong khung thời gian từ 18 đến 22 giờ. Giờ chiếu phim cho trẻ em dưới 13 tuổi phải kết thúc trước 22 giờ, cho trẻ em dưới 16 tuổi kết thúc trước 23 giờ.
Trên các kênh truyền hình trong nước, từ ngày 1/1/2026, thời lượng phát sóng phim Việt Nam phải đạt ít nhất 20% tổng thời lượng phát sóng phim, loại trừ dịch vụ truyền hình theo yêu cầu trên không gian mạng của cơ quan báo chí có giấy phép hoạt động truyền hình. Phim Việt Nam và phim cho trẻ em được ưu tiên phát sóng từ 18 đến 22 giờ; thời lượng phim cho trẻ em dưới 16 tuổi đạt ít nhất 5% tổng thời lượng phát sóng phim trên các kênh truyền hình trong nước.
Người cao tuổi, người có công với cách mạng, trẻ em, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và các đối tượng khác theo quy định được giảm ít nhất 20% giá vé khi trực tiếp xem phim tại rạp. Người khuyết tật đặc biệt nặng được miễn giá vé; người khuyết tật nặng được giảm tối thiểu 50%.
Về khoa học và công nghệ, văn bản quy định việc đầu tư công nghệ tiên tiến phục vụ hoạt động điện ảnh và quản lý nhà nước; số hóa phim, kịch bản, dữ liệu, tài liệu; xây dựng hạ tầng lưu trữ, thống kê dữ liệu. Các nội dung hỗ trợ còn bao gồm nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hệ thống dữ liệu lớn và hiện đại hóa thiết bị kỹ xảo, thiết bị kỹ thuật chuyên dụng phục vụ sản xuất, phát hành, phổ biến phim./.