Văn bản hợp nhất Nghị định số 144/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ với các nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một phần tại Nghị định số 116/2026/NĐ-CP ngày 2/4/2026 và Nghị quyết số 18/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ.
Phạm vi điều chỉnh bao gồm hoạt động nghệ thuật biểu diễn trên lãnh thổ Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài; áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoạt động nghệ thuật biểu diễn; tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Phân cấp thẩm quyền chấp thuận cho địa phương
Theo Nghị quyết số 18/2026/NQ-CP được dẫn chiếu trong văn bản hợp nhất, việc chấp thuận tổ chức biểu diễn nghệ thuật trong khuôn khổ hợp tác quốc tế của các hội chuyên ngành về nghệ thuật biểu diễn thuộc Trung ương, đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng biểu diễn nghệ thuật thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Việc chấp thuận tổ chức cuộc thi, liên hoan toàn quốc và quốc tế của các hội chuyên ngành, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương nêu trên cũng được phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Các quy định về phân cấp tại Phụ lục I của Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/6/2026 đến hết ngày 1/3/2027.
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được thông qua hoặc ban hành sau thời điểm Nghị quyết có hiệu lực, có quy định tương ứng và có hiệu lực trong khoảng từ ngày 29/4/2026 đến trước ngày 1/3/2027, các quy định tương ứng trong Nghị quyết hết hiệu lực kể từ thời điểm văn bản đó có hiệu lực.
Đối với cuộc thi người đẹp, người mẫu không thuộc phạm vi quản lý nội bộ của cơ quan, tổ chức, thẩm quyền chấp thuận thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan trực thuộc thực hiện biện pháp quản lý nhà nước, chịu trách nhiệm bảo đảm hoạt động tổ chức cuộc thi đúng quy định.
Theo các chú thích trong văn bản hợp nhất, Nghị quyết số 18/2026/NQ-CP quy định bãi bỏ khoản 1 Điều 10 về điều kiện tổ chức biểu diễn nghệ thuật; khoản 1 Điều 13 về điều kiện tổ chức cuộc thi, liên hoan; khoản 1 Điều 16 về điều kiện tổ chức cuộc thi người đẹp, người mẫu và quy định về điều kiện đối với cá nhân Việt Nam ra nước ngoài dự thi người đẹp, người mẫu tại Điều 19. Các quy định cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh này có hiệu lực cùng thời điểm với Phụ lục IV Luật Đầu tư năm 2025.
Ảnh minh họa
Cập nhật hồ sơ và thời hạn giải quyết thủ tục
Đối với tổ chức biểu diễn nghệ thuật thuộc khoản 3 Điều 8, hồ sơ gồm văn bản đề nghị; kịch bản, danh mục tác phẩm gắn với tác giả, người chịu trách nhiệm chính về nội dung chương trình. Tác phẩm nước ngoài phải kèm bản dịch tiếng Việt.
Tổ chức, cá nhân gửi một bộ hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến tới cơ quan có thẩm quyền ít nhất 7 ngày làm việc trước ngày dự kiến tổ chức. Nếu hồ sơ chưa hợp lệ, trong 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền thông báo bằng văn bản yêu cầu hoàn thiện.
Khi hồ sơ đầy đủ, thời hạn thẩm định, cấp văn bản chấp thuận là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Kết quả được đăng tải trên hệ thống thông tin điện tử; trường hợp không chấp thuận phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do.
Đối với cuộc thi, liên hoan các loại hình nghệ thuật biểu diễn thuộc khoản 2 Điều 11, hồ sơ gồm văn bản đề nghị và đề án tổ chức. Tổ chức, cá nhân gửi một bộ hồ sơ ít nhất 30 ngày làm việc trước ngày dự kiến tổ chức.
Theo nội dung sửa đổi tại Nghị định số 116/2026/NĐ-CP, thời hạn thẩm định, cấp văn bản chấp thuận là 10 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ. Kết quả được đăng tải trên hệ thống thông tin điện tử; nếu không chấp thuận phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do.
Với cá nhân Việt Nam ra nước ngoài dự thi người đẹp, người mẫu, hồ sơ gồm tờ khai và bản sao giấy mời dự thi kèm bản dịch tiếng Việt. Thành phần hồ sơ tại điểm b khoản 2 Điều 20 đã được bãi bỏ.
Cá nhân đề nghị cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cấp văn bản xác nhận. Thời hạn giải quyết là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ; kết quả được đăng tải trên hệ thống thông tin điện tử. Trường hợp không xác nhận phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do.
Bảo đảm trách nhiệm trong hoạt động nghệ thuật
Tổ chức, cá nhân tổ chức biểu diễn phải thực hiện đúng nội dung đã thông báo, được phê duyệt hoặc chấp thuận; bảo đảm nội dung phù hợp với văn hóa truyền thống, lứa tuổi, giới tính theo quy định. Hoạt động tổ chức cho trẻ em phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ trẻ em.
Tổ chức, cá nhân tổ chức và tham gia biểu diễn phải thực hiện quy định về quyền tác giả, quyền liên quan. Chủ địa điểm phải tuân thủ quy định về kinh doanh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống cháy nổ, môi trường và pháp luật liên quan.
Đối với biểu diễn, cuộc thi, liên hoan không trực tiếp trước công chúng được đăng tải trên hệ thống phát thanh, truyền hình và môi trường mạng, người đăng, phát chịu trách nhiệm. Trách nhiệm này cũng áp dụng với việc lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật trên các hệ thống nêu trên.
Cơ quan có thẩm quyền yêu cầu dừng hoạt động bằng văn bản khi vi phạm quy định cấm; không thông báo hoặc chưa được chấp thuận; hoặc vì lý do quốc phòng, an ninh, thiên tai, dịch bệnh, tình trạng khẩn cấp. Văn bản phải nêu rõ lý do, thời điểm dừng.
Tổ chức, cá nhân bị dừng hoạt động phải kịp thời khắc phục hậu quả, công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc dừng hoạt động và bảo đảm quyền lợi của tổ chức, cá nhân liên quan theo quy định./.