Tránh tạo thêm “một lớp” thủ tục cho doanh nghiệp
Trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, doanh nghiệp không chỉ là chủ thể đầu tư mà còn trực tiếp tham gia sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa các giá trị văn hóa. Chính vì vậy, việc xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được đặt trong yêu cầu hoàn thiện thể chế, tạo dựng môi trường thuận lợi để các nguồn lực xã hội, đặc biệt là khu vực tư nhân, mạnh dạn tham gia vào một lĩnh vực giàu tiềm năng.
Từ thực tiễn cộng đồng doanh nghiệp, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Nguyễn Quang Vinh cho biết: Điều quan trọng nhất để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào ngành công nghiệp văn hóa vẫn là niềm tin vào thể chế. Doanh nghiệp cần một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo; quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ; các quy định về đầu tư, thuế, đất đai, tài chính và thương mại được kết nối; đồng thời phải nhìn thấy khả năng khai thác, thương mại hóa và thu hồi vốn từ sản phẩm sáng tạo. Khi những điều kiện đó được bảo đảm, nguồn lực tư nhân mới có thể thực sự được khơi thông.
“Giá trị của Luật không chỉ là bổ sung một hành lang pháp lý, mà quan trọng hơn là tạo lập một thị trường để sáng tạo trở thành tài sản, tài sản trở thành nguồn lực và nguồn lực được chuyển hóa thành giá trị kinh tế, văn hóa và sức mạnh quốc gia” - ông Nguyễn Quang Vinh chia sẻ.
Một trong những vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là sự giao thoa giữa nhiều lĩnh vực pháp luật trong quá trình triển khai một dự án công nghiệp văn hóa.
Theo ông Nguyễn Quang Vinh, một doanh nghiệp trong lĩnh vực này không chỉ hoạt động trong phạm vi pháp luật về văn hóa. Từ khi hình thành ý tưởng, đầu tư sản xuất, xác lập và khai thác quyền sở hữu trí tuệ đến phân phối, thương mại hóa và đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau.
Qua đó, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không nên tạo thêm một “lớp” thủ tục pháp lý, mà cần tạo ra một khung pháp lý liên thông, xử lý những điểm giao thoa và tháo gỡ các điểm nghẽn giữa các hệ thống pháp luật có liên quan.
“Điều doanh nghiệp cần không phải là thêm ưu đãi trên giấy mà là một hành lang pháp lý rõ ràng để biết mình được đầu tư thế nào, tài sản trí tuệ được xác lập và khai thác ra sao, được hưởng chính sách thuế nào, tiếp cận vốn bằng cách nào và sản phẩm có thể thương mại hóa, xuất khẩu theo cơ chế nào?” - ông Nguyễn Quang Vinh nói.
Từ góc độ VCCI, ông Nguyễn Quang Vinh kiến nghị Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần phải quan tâm đến việc bảo đảm tính tương thích và thống nhất giữa Luật này với pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, thuế, đất đai, tín dụng, thương mại và sở hữu trí tuệ. Không thể để một dự án được khuyến khích theo chính sách văn hóa nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc bởi các quy định của pháp luật chuyên ngành.
Cùng với đó, cần thiết kế cơ chế phối hợp và thủ tục đủ rõ để doanh nghiệp không phải đi qua nhiều cơ quan với những cách hiểu khác nhau. Chính sách cũng cần phải theo được toàn bộ vòng đời của sản phẩm sáng tạo, từ hình thành ý tưởng, bảo hộ quyền, huy động vốn, sản xuất đến thương mại hóa và tiếp cận thị trường. Đây là điều kiện quan trọng để giảm chi phí tuân thủ, tăng tính dự báo và củng cố niềm tin của doanh nghiệp.
Để tài sản trí tuệ trở thành “vốn” của doanh nghiệp
Một điểm nghẽn khác được ông Nguyễn Quang Vinh nhấn mạnh là khả năng chuyển hóa tài sản trí tuệ thành nguồn lực tài chính.
Đối với nhiều doanh nghiệp công nghiệp văn hóa, tài sản có giá trị nhất không phải là nhà xưởng hay máy móc mà chính là bản quyền, thương hiệu, nội dung, thiết kế, dữ liệu sáng tạo và khả năng khai thác thương mại các tài sản đó. Tuy nhiên, từ việc thừa nhận giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ đến việc định giá được tài sản đó và sử dụng giá trị ấy để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vẫn còn một khoảng cách cần được giải quyết về thể chế.
Theo ông Nguyễn Quang Vinh, để tài sản trí tuệ thực sự trở thành một nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa, Dự thảo Luật cần nghiên cứu hình thành cơ chế định giá tài sản trí tuệ. Cần từng bước xây dựng nguyên tắc, tiêu chuẩn và phương pháp định giá phù hợp với từng loại tài sản; phát triển các tổ chức và đội ngũ định giá chuyên nghiệp; đồng thời hình thành cơ sở dữ liệu về giao dịch, khai thác quyền và dòng doanh thu. Đây là những điều kiện quan trọng để giá trị của tài sản trí tuệ được nhận diện một cách minh bạch và có cơ sở.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế để giá trị tài sản trí tuệ và dòng tiền hình thành từ việc khai thác quyền có thể được ngân hàng, quỹ đầu tư và các định chế tài chính xem xét khi đánh giá phương án cấp vốn. Đối với những dự án sáng tạo có tiềm năng nhưng mức độ rủi ro cao, có thể nghiên cứu các công cụ chia sẻ rủi ro, bảo lãnh hoặc đồng đầu tư phù hợp nhằm tạo “vốn mồi”, qua đó thu hút thêm nguồn lực xã hội, các quỹ đầu tư và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm tham gia vào lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Đồng thời, phát triển thị trường giao dịch và khai thác quyền sở hữu trí tuệ minh bạch, hiệu quả. Bởi một tài sản rất khó được định giá nếu thiếu dữ liệu thị trường và khả năng tạo dòng tiền chưa được chứng minh.
Đặc biệt, ông Nguyễn Quang Vinh lưu ý không nên biến việc định giá tài sản trí tuệ thành một thủ tục hành chính hay một loại “giấy chứng nhận giá trị”. Nhà nước cần tập trung kiến tạo khuôn khổ pháp lý, chuẩn mực và các công cụ hỗ trợ chia sẻ rủi ro cần thiết; còn việc định giá, quyết định đầu tư và phân bổ nguồn vốn cần tôn trọng nguyên tắc thị trường.
Nếu giải quyết được những vấn đề này, tài sản trí tuệ không chỉ được bảo hộ sau khi được sáng tạo ra, mà còn có thể được khai thác, định giá và chuyển hóa thành nguồn lực cho vòng sáng tạo tiếp theo.
Ưu đãi phải đi vào đúng điểm nghẽn
Song song với đó, để thu hút nguồn vốn tư nhân vào công nghiệp văn hóa, ông Nguyễn Quang Vinh cho rằng, vấn đề không chỉ là có thêm nhiều chính sách ưu đãi mà quan trọng hơn là làm cho đầu tư vào lĩnh vực này trở nên khả thi, có khả năng sinh lời và rủi ro có thể dự báo được. Doanh nghiệp sẽ đầu tư khi nhìn thấy thị trường, quyền lợi hợp pháp được bảo đảm và cơ hội thu hồi vốn tương xứng với mức độ rủi ro mà họ chấp nhận.
Vì vậy, chính sách ưu đãi nên được thiết kế vào đúng những điểm đang làm tăng chi phí và rủi ro của nhà đầu tư, từ thuế, đất đai, hạ tầng đến điều kiện đầu tư. Tuy nhiên, chính sách phải đủ rõ, dễ tiếp cận và tạo tác động thực tế đối với quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Đặc biệt, cơ chế chia sẻ rủi ro có thể tạo tác động mạnh đối với dòng vốn tư nhân, nhất là với các dự án sáng tạo có tiềm năng nhưng rủi ro ban đầu cao. Nhà nước không nhất thiết đầu tư thay doanh nghiệp mà có thể sử dụng nguồn lực công như một nguồn “vốn mồi” thông qua các cơ chế đồng đầu tư, bảo lãnh hoặc hỗ trợ một phần rủi ro phù hợp.
Mặt khác, một chính sách ưu đãi chỉ thực sự có giá trị khi doanh nghiệp tiếp cận được. Vì vậy, cần hạn chế cơ chế xin - cho, thủ tục xét duyệt phức tạp và những tiêu chí định tính khó dự báo. Điều kiện, đối tượng và mức ưu đãi cần minh bạch, có thể đo lường; thủ tục đơn giản và nhất quán giữa các cơ quan thực thi.
“Về dài hạn, ưu đãi tốt nhất vẫn là một thị trường tốt. Bên cạnh chính sách thuế, đất đai hay hỗ trợ vốn, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp quảng bá, xuất khẩu sản phẩm văn hóa, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài và mở rộng thị trường quốc tế. Đây mới là yếu tố quyết định khả năng mở rộng quy mô và duy trì dòng vốn tư nhân trong dài hạn” - ông Nguyễn Quang Vinh khẳng định.
Có thể thấy, yêu cầu đặt ra đối với Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là xác lập thêm các chính sách hỗ trợ một lĩnh vực mới, mà sâu xa hơn là tạo dựng một phương thức phát triển mới, trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế, thị trường phân bổ nguồn lực và doanh nghiệp trở thành lực lượng trực tiếp biến sức sáng tạo thành giá trị.
Khi thể chế tạo được niềm tin, thị trường tạo được cơ hội và sáng tạo được bảo vệ, doanh nghiệp sẽ có lý do để bỏ vốn. Khi giá trị sáng tạo có thể trở thành tài sản và tài sản có thể tạo ra nguồn lực mới, doanh nghiệp sẽ có điều kiện tiếp tục sáng tạo, mở rộng quy mô và đi đường dài.
Đó cũng chính là nền tảng để công nghiệp văn hóa không chỉ trở thành một lĩnh vực giàu tiềm năng mà thực sự trở thành một động lực tăng trưởng mới, đóng góp ngày càng lớn cho kinh tế, đồng thời lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam ra thị trường trong nước và quốc tế.