Lên đầu trang
Aa
Thể thao
Thứ Tư, 26/8/2026 13:35 (GMT+7)
81 năm xây dựng và phát triển ngành Văn hoá: Khi dữ liệu trở thành nguồn lực mới của thể thao Việt Nam
Từ những hồ sơ, thành tích được lưu trữ theo phương thức truyền thống, quản lý bằng kinh nghiệm hay ứng dụng công nghệ riêng lẻ, ngành Thể dục thể thao Việt Nam đã có bước chuyển mình mạnh mẽ trong phương thức vận hành khi hình thành cơ sở dữ liệu chuyên ngành, từng bước ra quyết định dựa trên dữ liệu và dần hoàn thiện hệ thống số được triển khai đồng bộ.

Trong hành trình 81 năm xây dựng và phát triển ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thể thao Việt Nam đã trải qua nhiều bước chuyển quan trọng. Nếu những giai đoạn trước đây, sự phát triển của ngành được tạo dựng chủ yếu từ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, kinh nghiệm quản lý và phương pháp huấn luyện, thì trong kỷ nguyên số, những yếu tố đó đang được bổ sung bởi một nguồn lực mới mang tên dữ liệu và công nghệ.

Chuyển đổi số vì vậy không đơn thuần là đưa hồ sơ giấy lên môi trường điện tử hay xây dựng thêm một phần mềm quản lý. Với thể thao, giá trị lớn hơn nằm ở việc dữ liệu có thể được kết nối, phân tích và sử dụng để nâng cao chất lượng quản lý, tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện VĐV, tổ chức thi đấu cũng như phát triển phong trào TDTT.

Từ những trang hồ sơ đến kho dữ liệu chuyên ngành

Trong thể thao thành tích cao, dữ liệu có giá trị đặc biệt

Một trong những kết quả cụ thể của quá trình chuyển đổi số được ngành TDTT ghi nhận là việc từng bước số hóa khối lượng dữ liệu chuyên môn vốn được tích lũy trong nhiều năm. Báo cáo công tác chuyển đổi số năm 2024 cho biết, trong nửa đầu năm, Trung tâm Thông tin – Truyền thông TDTT đã thu thập và cập nhật dữ liệu thành tích thi đấu của khoảng 60 giải thể thao thành tích cao, với khối lượng dữ liệu được quy đổi khoảng 16.000 trang A4, lên hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Cục TDTT. 

Đây là một con số có ý nghĩa không chỉ ở khối lượng thông tin được số hóa. Quan trọng hơn, những dữ liệu vốn tồn tại trong các hồ sơ, báo cáo và tài liệu chuyên môn đang từng bước được chuyển thành nguồn dữ liệu có khả năng lưu trữ, tìm kiếm, cập nhật và khai thác trên môi trường số.

Cùng với dữ liệu thành tích, ngành TDTT đã triển khai xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu VĐV, hướng tới tích hợp các nhóm dữ liệu về VĐV, HLV, thành tích thi đấu, cơ sở vật chất và phong trào TDTT quần chúng. Đến năm 2025, Cục TDTT tiếp tục xác định việc hoàn thiện, vận hành cơ sở dữ liệu số của ngành là một nhiệm vụ quan trọng, đồng thời đặt vấn đề ứng dụng AI, dữ liệu lớn và phân tích thông minh vào tuyển chọn, huấn luyện và quản lý thể thao thành tích cao. Như vậy, thay đổi đầu tiên và có tính nền tảng của chuyển đổi số chính là thay đổi cách ngành nhìn nhận dữ liệu khi từ một nguồn thông tin phục vụ lưu trữ trở thành nguồn lực phục vụ quản lý và chuyên môn.

Trong thể thao thành tích cao, dữ liệu có giá trị đặc biệt. Một VĐV không chỉ được đánh giá thông qua thành tích tại một giải đấu, mà còn cần được nhìn nhận trong cả quá trình tập luyện, thi đấu và phát triển phong độ. Đây cũng là lý do Cục TDTT đặt việc xây dựng cơ sở dữ liệu VĐV trong mối quan hệ trực tiếp với ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo.

Theo định hướng của ngành, dữ liệu về VĐV, HLV, thành tích thi đấu và quá trình huấn luyện có thể được tích hợp để phục vụ công tác tuyển chọn, đào tạo và quản lý. Việc ứng dụng AI, Big Data và các phương pháp phân tích thông minh được xác định nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng huấn luyện và thành tích thể thao. Điều này tạo ra một thay đổi đáng chú ý trong tư duy quản lý thể thao.

Trước đây, kinh nghiệm của HLV và chuyên gia là một trong những cơ sở quan trọng để đưa ra quyết định. Trong thể thao hiện đại, kinh nghiệm ấy vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng được bổ trợ bằng dữ liệu khoa học. Những thông tin về thành tích, quá trình tập luyện và các chỉ số chuyên môn, khi được thu thập đầy đủ và phân tích đúng cách, có thể giúp HLV và nhà quản lý có thêm căn cứ để đánh giá VĐV, điều chỉnh phương pháp huấn luyện và hoạch định đầu tư.

Nói cách khác, chuyển đổi số đang từng bước đưa thể thao Việt Nam từ “quản lý những gì đã xảy ra” sang khả năng phân tích dữ liệu để hỗ trợ quyết định cho những bước tiếp theo. Đây chính là giá trị lớn nhất của dữ liệu đối với thể thao thành tích cao.

Từ xây dựng nền móng đến triển khai đồng bộ

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành nhiều chính sách tạo đà phát triển thuận lợi cho chuyển đổi số

Chuyển đổi số là quá trình đòi hỏi sự chuẩn bị trong nhiều năm trước nhằm tạo nền tảng chuyển đổi sang một giai đoạn mới. Sau quá trình chuẩn bị dài hơi có kế hoạch chi tiết, ngày 2/10/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 3515/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực TDTT. Đề án xác định chuyển đổi số là một trong những động lực trọng tâm để hiện đại hóa quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả tổ chức phong trào rèn luyện thân thể, phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp, thể thao học đường, thể thao cộng đồng và thể thao giải trí.

Đề án xác định 7 nhóm mục tiêu gồm: hạ tầng số; nền tảng số; cơ sở dữ liệu; ứng dụng số; thể chế, chính sách; nhân lực số; và ứng dụng công nghệ số trong TDTT cơ sở. Đặc biệt, cơ sở dữ liệu chuyên ngành được định hướng theo hướng thống nhất, chuẩn hóa, có khả năng liên thông và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia.

Phạm vi ứng dụng cũng được mở rộng từ quản lý hành chính, tổ chức thi đấu đến huấn luyện – đào tạo, giám sát thành tích, chăm sóc sức khỏe VĐV và quản lý phong trào TDTT quần chúng. Đề án đồng thời đặt mục tiêu xây dựng hạ tầng có khả năng tích hợp những công nghệ mới như điện toán đám mây, AI, IoT, Big Data và mạng thế hệ mới. Đây là dấu mốc quan trọng bởi chuyển đổi số từ chỗ là những nhiệm vụ ứng dụng CNTT riêng lẻ đã được đặt trong một chiến lược thống nhất cho toàn ngành TDTT.

Nếu năm 2025 đánh dấu việc hình thành khuôn khổ chiến lược, thì năm 2026 cho thấy chuyển đổi số bắt đầu được đặt vào những công việc cụ thể hơn. Trong định hướng hoạt động năm 2026, Cục TDTT cho biết ngành sẽ làm mới toàn bộ hệ thống công nghệ thông tin, đồng thời tiến hành chuyển đổi số đồng bộ, triệt để đến từng lĩnh vực và nội dung công việc cụ thể. 

Đáng chú ý, chuyển đổi số được đưa trực tiếp vào công tác tổ chức Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Theo kế hoạch được Cục TDTT thông tin, các khâu từ đăng ký nhân sự, quản lý thẻ VĐV đến cập nhật kết quả thi đấu được thực hiện thông qua hệ thống phần mềm dùng chung. Kết quả thi đấu cũng được cung cấp trực tuyến cho báo chí và người hâm mộ, qua đó góp phần tăng tính minh bạch trong tổ chức và thi đấu. Đây là ví dụ rõ nét cho sự thay đổi từ “ứng dụng công nghệ” sang “thay đổi quy trình bằng công nghệ”.

Khi đăng ký, quản lý nhân sự, thẻ VĐV và kết quả thi đấu cùng được thực hiện trên hệ thống dùng chung, dữ liệu không chỉ được lưu trữ mà còn có thể được sử dụng xuyên suốt quá trình tổ chức một sự kiện thể thao.

Một số địa phương cũng đang triển khai hướng đi tương tự. Tại TP Hồ Chí Minh, dự án số hóa phục vụ Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X được xác định bao phủ các hoạt động trọng yếu của Đại hội, hướng tới hình thành một hệ sinh thái công nghệ thông tin phục vụ tổ chức sự kiện. 

Một điểm quan trọng trong cách tiếp cận mới của ngành là chuyển đổi số không chỉ phục vụ các đội tuyển và VĐV thành tích cao.

Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực TDTT xác định rõ việc ứng dụng công nghệ tại cơ sở, đặc biệt ở xã, phường, thị trấn và vùng sâu, vùng xa; đồng thời tăng cường thu thập, cập nhật dữ liệu phong trào để phục vụ lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực và tổ chức các chương trình phù hợp với đặc thù từng địa phương.

Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026–2030 cũng đặt vấn đề ứng dụng công nghệ số để thúc đẩy phong trào TDTT, hình thành xã hội vận động và khuyến khích mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao. Trong thể thao thành tích cao, ngành tiếp tục chú trọng ứng dụng công nghệ tiên tiến vào tuyển chọn, đào tạo và huấn luyện VĐV. Như vậy, chuyển đổi số đang mở rộng từ quản lý VĐV sang quản lý cả hệ sinh thái thể thao.

Nếu dữ liệu về phong trào, cơ sở vật chất và nhu cầu tập luyện của người dân được cập nhật đầy đủ, cơ quan quản lý sẽ có thêm cơ sở để nhận diện nơi nào thiếu thiết chế thể thao, môn thể thao nào được quan tâm và nguồn lực cần được phân bổ như thế nào. Công nghệ, khi đó, không còn là câu chuyện của riêng ngành CNTT mà trở thành công cụ để chính sách thể thao đến gần hơn với người dân.

Nền tảng cho một phương thức quản trị mới

Công tác chuyển đổi số có thể xem là một bước chuyển đáng chú ý của thể thao Việt Nam

Nhìn lại chặng đường gần đây, chuyển đổi số của ngành TDTT chưa thể coi là đã hoàn tất. Cơ sở dữ liệu vẫn cần tiếp tục được chuẩn hóa, cập nhật và liên thông; các nền tảng cần được hoàn thiện; nhân lực số cần được nâng cao; quan trọng nhất là dữ liệu phải ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong thực tiễn quản lý và chuyên môn.

Từ việc số hóa dữ liệu của khoảng 60 giải thể thao thành tích cao, tương đương khoảng 16.000 trang A4, ngành đã từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành và dữ liệu VĐV. Đến năm 2025, Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực TDTT được phê duyệt, xác lập một khuôn khổ thống nhất với 7 nhóm mục tiêu lớn. Sang năm 2026, chuyển đổi số được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt giai đoạn 2026–2030 của Cục TDTT; đồng thời ngành đặt mục tiêu làm mới hệ thống CNTT và triển khai chuyển đổi số đồng bộ.

Đặc biệt, việc chuyển đổi số được đưa vào những công việc cụ thể như tổ chức Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X cho thấy công nghệ đang bắt đầu thay đổi cách ngành vận hành, chứ không chỉ bổ sung thêm những công cụ hỗ trợ.

Nhìn từ dấu mốc 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đây có thể xem là một bước chuyển đáng chú ý của thể thao Việt Nam. Nếu những thành tựu của các thế hệ đi trước được tạo nên bởi ý chí, con người, kinh nghiệm và khát vọng vươn lên, thì trong kỷ nguyên mới, sức mạnh ấy đang được bổ sung bằng dữ liệu, khoa học và công nghệ.

Từ những trang hồ sơ được số hóa đến cơ sở dữ liệu VĐV; từ việc lưu trữ thành tích đến phân tích phục vụ huấn luyện; từ quản lý thủ công đến các quy trình được vận hành trên nền tảng số – hành trình ấy vẫn đang tiếp tục. Đích đến không phải là một ngành thể thao đơn thuần “nhiều công nghệ hơn”, mà là một nền thể thao quản trị khoa học hơn, minh bạch hơn, phản ứng nhanh hơn và ra quyết định tốt hơn.

Trong hành trình hướng tới các mục tiêu của Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, chuyển đổi số vì thế không chỉ là một nhiệm vụ của thời đại số. Đó đang trở thành một trong những nền tảng để thể thao Việt Nam nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác tốt hơn nguồn lực và từng bước thu hẹp khoảng cách với thể thao khu vực và thế giới.

>> Bài tiếp: [Infogarphic] 81 năm ngành Văn hóa: Từ gìn giữ di sản đến kiến tạo văn hóa số

Bạch Dương
Cùng chuyên mục
"Cùng Việt Nam tiến bước" năm 2026 hướng tới 10 tỷ bước xanh
Chiều 25/8, tại Hà Nội, Báo Nhân Dân phối hợp Bộ Công an tổ chức họp báo thông tin về hoạt động đi bộ toàn quốc “Cùng Việt Nam tiến bước” năm 2026.
Thứ trưởng Hoàng Đạo Cương động viên đội tuyển Việt Nam trước trận chung kết lượt về
Tối 25/8, sau buổi tập cuối cùng trên sân VĐQG Mỹ Đình chuẩn bị cho trận chung kết lượt về ASEAN Championship 2026 với tuyển Thái Lan, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Đạo Cương đã gặp gỡ, động viên và khích lệ tinh thần thầy trò HLV Kim Sang Sik.
ASIAD 2026: Nhật Bản gấp rút chuẩn bị, dự kiến lượng khách vượt kế hoạch
Ban tổ chức ASIAD 2026 đề nghị Hội đồng Olympic châu Á sớm xử lý việc số vận động viên, huấn luyện viên và quan chức tham dự Đại hội có thể vượt kế hoạch ban đầu tới 2.000 người.
Chủ tịch FIFA Gianni Infantino dự khán trận chung kết ASEAN Cup 2026
Chủ tịch FIFA Gianni Infantino và Tổng thư ký FIFA Mattias Grafström sẽ có mặt trên khán đài sân vận động quốc gia Mỹ Đình để dự khán trận chung kết lượt về ASEAN Cup 2026 giữa đội tuyển Việt Nam và đội tuyển Thái Lan.
U20 Việt Nam hướng tới tấm vé dự VCK châu Á 2027
Chiều 24/8, ngay sau khi đặt chân tới Phú Thọ, đội tuyển U20 Việt Nam đã bước vào buổi tập đầu tiên trên sân vận động Việt Trì, bắt đầu giai đoạn chuẩn bị cuối cùng cho Vòng loại U20 châu Á 2027.
EMC Đã kết nối EMC