Với cú huých từ những chính sách cởi mở, sự phục hồi mạnh mẽ và đà tăng trưởng hai con số đầy ấn tượng, ngành du lịch Việt Nam đang tự tin sải bước vào kỷ nguyên của chất lượng, tính bền vững và sự khẳng định vị thế trên bản đồ du lịch thế giới.
TỪ NỀN TẢNG VỮNG CHẮC ĐẾN TẦM VÓC KINH TẾ MŨI NHỌN
Trải qua 81 năm hình thành và phát triển kể từ ngày thành lập Bộ Thông tin - Tuyên truyền (tiền thân của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày nay) trong những ngày Thu lịch sử năm 1945, ngành VHTTDL đã cùng dân tộc đi qua những chặng đường gian lao nhưng vô cùng rực rỡ. Trong bức tranh tổng thể đó, lĩnh vực du lịch đã có sự trưởng thành vượt bậc.
Từ một lĩnh vực chủ yếu phục vụ nhiệm vụ đối ngoại và nhu cầu nghỉ dưỡng trong nước, du lịch từng bước mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình, chuyên nghiệp hóa hoạt động và khẳng định vị thế là một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu phát triển quốc gia.
Sự phát triển của du lịch không chỉ mang lại giá trị trực tiếp cho ngành mà còn tạo sức lan tỏa tới thương mại, vận tải, lưu trú, văn hóa, ẩm thực, nông nghiệp, công nghiệp sáng tạo và nhiều lĩnh vực dịch vụ khác. Mỗi điểm đến được đầu tư, mỗi sản phẩm được hình thành hay mỗi dòng khách được thu hút đều góp phần tạo thêm việc làm, mở rộng không gian phát triển và quảng bá hình ảnh đất nước.
Bước vào thời kỳ Đổi mới (1986) và đặc biệt là từ thập niên 1990 đến nay, khi Đảng và Nhà nước ban hành nhiều Nghị quyết quan trọng khẳng định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch Việt Nam mới thực sự bùng nổ. Sự chuyển dịch tư duy từ "phục vụ" sang "kinh doanh dịch vụ chất lượng cao", từ "đón khách" sang "tạo dựng trải nghiệm điểm đến" đã thay đổi hoàn toàn diện mạo ngành.
Đại dịch COVID-19 là phép thử khắc nghiệt đối với năng lực chống chịu của toàn ngành. Tuy nhiên, chính giai đoạn nhiều khó khăn ấy cũng thúc đẩy du lịch nhìn lại mô hình phát triển, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại thị trường, đổi mới phương thức xúc tiến, ứng dụng công nghệ số và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Quá trình phục hồi sau đại dịch không đơn thuần là sự trở lại của các dòng khách, mà còn là bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển – từ mục tiêu mở rộng quy mô sang yêu cầu nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị và phát triển bền vững.
Đó cũng là tiền đề để ngành Du lịch bước vào giai đoạn phát triển mới với tâm thế chủ động. Hơn sáu thập kỷ xây dựng và phát triển đã tạo nên một nền tảng đủ vững để du lịch Việt Nam bước vào chặng đường mới với những kỳ vọng lớn hơn.
BỨT PHÁ TĂNG TRƯỞNG 2 CON SỐ
Nhìn vào bức tranh toàn cảnh năm 2026, ngành Du lịch Việt Nam đang ghi nhận những con số tăng trưởng vô cùng thuyết phục. Sự phục hồi không chỉ dừng lại ở chỉ số số lượng khách mà còn thể hiện rõ nét ở tổng thu du lịch và mức độ chi tiêu của du khách.
Theo số liệu thống kê 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã đón hơn 13,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 56% mục tiêu của cả năm 2026. Đây là chỉ số tăng trưởng 2 con số cực kỳ ấn tượng trong bối cảnh tình hình kinh tế - địa chính trị thế giới còn nhiều biến động phức tạp và du lịch quốc tế vừa trải qua giai đoạn thấp điểm mùa hè.
Xét về quy mô thị trường, Trung Quốc tiếp tục là thị trường gửi khách lớn nhất của Việt Nam, Hàn Quốc đứng thứ hai, tiếp tục khẳng định vị trí là hai thị trường truyền thống quan trọng và ổn định của du lịch Việt Nam. Đáng chú ý, Nga tiếp tục là điểm sáng nổi bật khi lượt khách tăng 174% so với cùng kỳ năm 2025 và cao hơn gấp 2 lần so với năm 2019.
Tại khu vực Đông Nam Á, Campuchia và Philippines là hai quốc gia có số lượng du khách tới Việt Nam lớn nhất. Các thị trường đường dài cũng góp mặt trong nhóm 10 thị trường lớn nhất, gồm Nga, Hoa Kỳ và Australia.
Cơ sở nào tạo nên cú bứt phá ngoạn mục này? Câu trả lời trước hết nằm ở những đổi mới mạnh mẽ về chính sách, cách thức xúc tiến, quảng bá và chất lượng sản phẩm du lịch. Trước tiên, đột phá từ chính sách thị thực (Visa) đã tạo thêm điều kiện thuận lợi để du khách quốc tế lựa chọn Việt Nam. Việc Chính phủ mở rộng áp dụng thị thực điện tử (e-visa) cho công dân tất cả các nước, nâng thời hạn tạm trú từ 30 ngày lên 90 ngày và cho phép xuất nhập cảnh nhiều lần, cùng với việc nâng thời hạn tạm trú đơn phương miễn thị thực lên 45 ngày đã góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cho du lịch Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực.
Từ nền tảng thuận lợi về chính sách, công tác xúc tiến, quảng bá du lịch cũng được đẩy mạnh theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cùng các địa phương và doanh nghiệp đã triển khai chuỗi chương trình giới thiệu du lịch Việt Nam tại các thị trường trọng điểm như châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Bắc Á, Ấn Độ và các nước Trung Đông. Việc tăng cường kết nối trực tiếp với các hãng lữ hành quốc tế lớn, đồng thời đẩy mạnh truyền thông số, đã góp phần đưa hình ảnh và sản phẩm du lịch Việt Nam tiếp cận sâu rộng hơn với thị trường quốc tế.
Cùng với chính sách và xúc tiến, sức hấp dẫn của điểm đến còn được tạo dựng từ sự phong phú và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm du lịch. Việt Nam đang từng bước chuyển từ định hướng phát triển các sản phẩm giá rẻ sang tập trung vào những dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao như du lịch văn hóa - di sản, du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng biển đảo cao cấp, du lịch MICE, du lịch chăm sóc sức khỏe và du lịch golf.
ĐẢM NHẬN SỨ MỆNH MỚI
Trong thời đại mới, du lịch Việt Nam không chỉ gánh vác mục tiêu tăng trưởng về doanh thu hay số lượt khách, mà còn mang trên mình những sứ mệnh chiến lược.
Du lịch là đại sứ văn hóa Việt Nam
Văn hóa là cốt lõi, là "hồn cốt" của du lịch Việt Nam. Mỗi di sản kiến trúc, mỗi lễ hội truyền thống, mỗi món ăn vùng miền hay mỗi nụ cười thân thiện của người dân đều là một "tiếp viên văn hóa" truyền tải thông điệp về một Việt Nam hòa bình, giàu bản sắc và thân thiện.
Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030 đã xác định rõ: Phát triển du lịch gắn liền với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Các chương trình nghệ thuật truyền thống, các không gian văn hóa sáng tạo, việc vinh danh ẩm thực Việt Nam trên các bản đồ Michelin Guide hay các giải thưởng World Travel Awards đã đưa văn hóa Việt Nam lan tỏa mạnh mẽ ra thế giới.
Du lịch không đơn thuần là ngành kinh tế không khói, mà là nhịp cầu ngoại giao văn hóa hiệu quả nhất. Khi du khách quốc tế đến với Việt Nam, họ không chỉ tiêu dùng dịch vụ mà còn mang về niềm tin, sự trân trọng đối với giá trị lịch sử và bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam. Phát triển du lịch xanh, bền vững chính là lời cam kết trách nhiệm của chúng ta với thế hệ tương lai.
Xu hướng Du lịch Xanh và cam kết Net-Zero
Nhận thức rõ những thách thức từ biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, ngành Du lịch Việt Nam đang từng bước chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình du lịch xanh, du lịch tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững và thực hiện cam kết Net-Zero.
Tại nhiều điểm đến như Hội An, Cô Tô, Phú Quốc, Ninh Bình, các chiến dịch giảm thiểu rác thải nhựa, xây dựng điểm đến không rác thải nhựa được triển khai, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường.
Cùng với đó, du lịch dựa vào cộng đồng ngày càng được chú trọng, tạo điều kiện để người dân địa phương, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Bắc, Tây Nguyên, tham gia làm du lịch, qua đó vừa tạo sinh kế bền vững, vừa góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa.
Ngành Du lịch cũng đang hướng tới phát triển các sản phẩm du lịch xanh, tour du lịch trung hòa carbon, đồng thời khuyến khích sử dụng các phương tiện giao thông thân thiện với môi trường như xe điện, xe đạp tại các đô thị và điểm đến du lịch như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Hội An, góp phần giảm phát thải, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.
Hệ sinh thái du lịch thông minh
Trọng tâm chuyển đổi số của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong giai đoạn hiện nay là xây dựng Hệ sinh thái du lịch thông minh, coi công nghệ là hạ tầng mới cho sự phát triển du lịch hiện đại.
Chuyển đổi số trong du lịch không còn là khái niệm trên giấy mà đã đi vào thực tiễn sinh động, góp phần nâng cao chất lượng trải nghiệm và hiệu quả quản lý.
Ứng dụng “Du lịch Việt Nam - Vietnam Travel” được tích hợp nhiều tính năng như tìm kiếm thông tin, bản đồ số du lịch, tìm kiếm các dịch vụ được chuẩn hóa, phản ánh chất lượng dịch vụ và thanh toán không dùng tiền mặt, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách.
Cùng với đó, thẻ du lịch thông minh từng bước kết nối liên thông giữa lĩnh vực du lịch với ngân hàng, y tế, giao thông, giúp du khách tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thuận tiện chỉ qua một thao tác chạm.
Đặc biệt, công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) đã được triển khai tại nhiều di tích quốc gia đặc biệt như Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Đại Nội Huế, mở ra những phương thức trải nghiệm mới, giúp du khách trong và ngoài nước tiếp cận, khám phá lịch sử, văn hóa một cách trực quan và sinh động hơn.
Sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại và chiều sâu văn hóa lịch sử đang tạo nên sức hấp dẫn mới, hiện đại và văn minh cho du lịch Việt Nam, thu hút thế hệ du khách Gen Z và những người yêu thích du lịch trải nghiệm thông minh trên toàn cầu.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia mở ra một định hướng chiến lược mới, tạo động lực quan trọng để ngành du lịch chuyển từ ứng dụng công nghệ đơn lẻ sang phát triển một hệ sinh thái du lịch số hiện đại, thông minh và dựa trên dữ liệu.
Mô hình “1+1+34+N”
Việt Nam đang sở hữu nguồn dữ liệu rất lớn được hình thành từ hoạt động xuất nhập cảnh, lưu trú, hàng không, vận tải, thanh toán, viễn thông, thương mại điện tử và các nền tảng số. Tuy nhiên, dữ liệu số du lịch chưa đạt yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Để khắc phục tình trạng này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất xây dựng hệ sinh thái dữ liệu du lịch quốc gia theo mô hình “1+1+34+N”. Trong đó: 1: Bộ VHTTDL, 1: Bộ Công an, 34: Địa phương, N: Bộ, ngành, doanh nghiệp, tổ chức liên quan.
Mô hình hướng tới hình thành các bộ dữ liệu lõi về du khách quốc tế, dòng khách du lịch và trải nghiệm du khách, tạo nền tảng xây dựng hồ sơ du khách số, nâng cao năng lực dự báo, điều hành và cá nhân hóa dịch vụ. Đồng thời, dữ liệu được kết nối và khai thác hiệu quả sẽ mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp công nghệ du lịch và khu vực kinh tế tư nhân.
Việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu du lịch quốc gia theo mô hình “1+1+34+N” không chỉ tạo lập nền tảng dữ liệu dùng chung cho toàn ngành, mà còn mở ra một phương thức phát triển mới cho ngành du lịch trong kỷ nguyên số.
Đây cũng là bước cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng của du lịch từ dựa trên khai thác tài nguyên sang dựa trên dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Bước sang năm 2026, ngành Du lịch được giao những mục tiêu cao hơn. Theo định hướng của Chính phủ, năm 2026 ngành phấn đấu đón 25 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 150 triệu lượt khách nội địa, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của cả nước. Đây không chỉ là những con số thể hiện quyết tâm của ngành mà còn phản ánh kỳ vọng về một lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn đối với nền kinh tế.
Nhìn từ góc độ phát triển, việc đặt du lịch vào vị trí một động lực tăng trưởng không đồng nghĩa với việc ngành phải "gánh" mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế. Điều quan trọng hơn là phát huy tối đa lợi thế của một ngành kinh tế tổng hợp để tạo hiệu ứng lan tỏa tới các lĩnh vực khác. Mỗi dòng khách được thu hút, mỗi sản phẩm mới được hình thành, mỗi điểm đến được nâng tầm đều tạo ra nhu cầu mới đối với hạ tầng, dịch vụ, thương mại và đầu tư; đồng thời góp phần nâng cao hình ảnh, sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Sứ mệnh mới vì thế cũng đòi hỏi một tư duy phát triển mới. Đó không còn là câu chuyện chạy theo số lượng hay những chỉ tiêu ngắn hạn, mà là quá trình kiến tạo một hệ sinh thái du lịch hiện đại, thông minh, xanh và bền vững; xây dựng những điểm đến có bản sắc, những sản phẩm có giá trị gia tăng cao và một môi trường du lịch thực sự hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế.
Đó cũng chính là nền tảng để ngành Du lịch bước sang giai đoạn tiếp theo – giai đoạn tạo lập những động lực mới nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới.
“Chúng ta cần định vị rõ du lịch Việt Nam đang ở đâu, có những thuận lợi và khó khăn gì, cần những giải pháp đột phá nào để tạo ra các “cú huých” mới, từ đó đưa du lịch phát triển nhanh, bền vững và đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế”
Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh
KHÁT VỌNG TƯƠNG LAI – KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ
Trước những yêu cầu của kỷ nguyên mới, ngành Du lịch đang đứng trước cơ hội khẳng định vị thế không chỉ bằng quy mô thị trường hay tốc độ tăng trưởng, mà bằng chất lượng phát triển, năng lực cạnh tranh và những giá trị bền vững mang lại cho đất nước.
Những mục tiêu mà ngành đang hướng tới vì thế không chỉ là những con số về lượng khách, doanh thu hay thị phần. Điều quan trọng hơn là xây dựng một ngành Du lịch có khả năng thích ứng trước những biến động của thế giới, có sức cạnh tranh trong khu vực, có hệ sinh thái dịch vụ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao, sản phẩm đặc sắc và môi trường phát triển bền vững. Đó cũng là những yếu tố quyết định để du lịch tiếp tục giữ vững vai trò là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng cao và tạo động lực cho tăng trưởng.
Chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù gắn với đô thị du lịch nổi bật
Con đường phía trước chắc chắn còn nhiều thách thức. Cạnh tranh giữa các điểm đến ngày càng gay gắt; yêu cầu của du khách ngày càng cao; xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu. Những yếu tố đó đòi hỏi ngành Du lịch phải tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao năng lực quản trị, đẩy mạnh liên kết, phát huy hiệu quả các nguồn lực và không ngừng sáng tạo để tạo nên những giá trị khác biệt.
Tuy nhiên, cùng với những thách thức là cơ hội chưa từng có. Chủ trương của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân đang tạo nên những điều kiện thuận lợi để ngành Du lịch bứt phá. Khi những động lực mới được khơi thông, những điểm nghẽn từng bước được tháo gỡ và các lợi thế được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực chất, du lịch sẽ có thêm dư địa để phát triển.
Phát huy những thành quả đã đạt được, ngành Du lịch đang đứng trước một chặng đường phát triển mới với tầm nhìn rộng hơn, khát vọng lớn hơn và trách nhiệm cao hơn. Mục tiêu không chỉ là xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới, mà còn phát huy mạnh mẽ vai trò của du lịch trong thúc đẩy tăng trưởng, tạo sinh kế và đóng góp vào quá trình phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Với quyết tâm cao của toàn ngành, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, ngành Du lịch Việt Nam sẽ tiếp tục vươn tới những đỉnh cao mới, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đưa Việt Nam tỏa sáng rực rỡ trên bản đồ du lịch toàn cầu./.
>> Bài tiếp: Khi dữ liệu trở thành nguồn lực mới của thể thao Việt Nam