Lên đầu trang
Aa
Thông tin-Trao đổi
Thứ Ba, 18/8/2026 09:28 (GMT+7)
Đột phá nhân lực ngành công nghiệp văn hóa
Để đưa công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn cần chiến lược thúc đẩy toàn diện, đặc biệt là đột phá chất lượng nguồn nhân lực.

Từ tích lũy về lượng sang nhảy vọt về chất

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tỷ trọng đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP trong giai đoạn 2018 - 2025 chỉ khoảng 4 - 5%. Con số này phản ánh khoảng cách so với mục tiêu đóng góp tối thiểu 7% GDP vào năm 2030 như Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đề ra. Các chuyên gia cho rằng, chênh lệch giữa tài nguyên văn hóa và giá trị gia tăng không chỉ nằm ở cơ sở hạ tầng hay nguồn vốn, mà cốt lõi ở chất lượng nguồn nhân lực.

Phát triển công nghiệp văn hóa đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng theo kết cấu “kiềng ba chân”: nhân lực quản lý (hoạch định chính sách, xây dựng thể chế); nhân lực sáng tạo (nghệ sĩ, tác giả); nhân lực sản xuất, kinh doanh (tối ưu hóa giá trị kinh tế). Thế nhưng bức tranh nhân lực Việt Nam đang bộc lộ sự mất cân đối đáng kể. Thực tế cho thấy công tác đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp văn hóa đang “lệch pha” giữa hệ thống đào tạo và nhu cầu vận hành của thị trường sáng tạo. Việc thiếu môi trường đào tạo liên ngành - nơi sáng tạo nghệ thuật, công nghệ và tư duy kinh tế gắn bó chặt chẽ với nhau có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng nhân lực ngành những năm tới.

Ảnh TH
Nhân lực văn hóa được mở rộng sang người lao động các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, nội dung số, thiết kế, truyền thông, quản trị di sản và cả những không gian sáng tạo mới. Ảnh: TH

Bước vào kỷ nguyên số, phương thức sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm văn hóa có sự thay đổi lớn. Những kỹ năng số nâng cao như thiết kế trải nghiệm người dùng, mô hình hóa 3D, trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu và an ninh mạng trở thành công cụ bắt buộc để gia tăng giá trị sáng tạo. Các nhà sáng tạo thời nay không chỉ vẽ, viết trên giấy mà còn có thể thiết kế một không gian thực tế ảo để khán giả toàn cầu bước vào tương tác, thậm chí mua bán dưới dạng tài sản số hóa. Hơn thế, yêu cầu đối với nhân lực trẻ còn mở rộng sang chuẩn mực đạo đức số - lá chắn giúp họ điều chỉnh hành vi và bảo tồn bản sắc dân tộc trên không gian mạng... Đây đều là yêu cầu khắt khe, buộc hệ thống đào tạo nhân lực ngành phải thay đổi.

Theo PGS. TS. Nguyễn Văn Hiệu, Hiệu trưởng Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong tầm nhìn dài hạn, chính sách đào tạo nhân lực văn hóa cần chuyển từ tư duy cung cấp sang phát triển năng lực cạnh tranh. Trong hướng thay đổi mang tính nền tảng này, đào tạo cần vượt phạm vi truyền thống, mở rộng tính liên ngành.

“Nhân lực văn hóa không còn được hiểu theo nghĩa hẹp là đội ngũ văn nghệ sĩ hoạt động trong các thiết chế văn hóa, nghệ thuật, mà được mở rộng sang người lao động các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, nội dung số, thiết kế, truyền thông, quản trị di sản và cả những không gian sáng tạo mới. Vì vậy, vấn đề đặt ra không phải là tăng số lượng, mà là tái cấu trúc toàn bộ hệ thống đào tạo và sử dụng nhân lực theo hướng phù hợp với hệ sinh thái công nghiệp văn hóa”, PGS. TS. Nguyễn Văn Hiệu chỉ ra.

Bệ phóng cho lực lượng sáng tạo

Những năm gần đây, hệ thống chính sách của Việt Nam đang trải qua cuộc cách mạng thực sự nhằm mở đường cho công nghiệp văn hóa cất cánh. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Công nghiệp văn hóa nhằm xác định đúng các cơ chế, chính sách mang tính then chốt để tạo khung khổ pháp lý thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa (dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10/2026). Dự thảo Luật được xây dựng trên quan điểm xác định trúng, đúng các cơ chế, chính sách, hướng tới phát triển đồng bộ dựa trên 6 trụ cột cốt lõi: hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; nhân lực; hạ tầng; thị trường; tài chính và hỗ trợ ưu đãi, đầu tư.

Đối với công tác phát triển nhân lực ngành, dự thảo Luật đưa ra nhiều chính sách mới về tính liên thông trong đào tạo, cơ chế đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, đầu tư cho tài năng. Theo đó, xây dựng khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa làm căn cứ chuẩn hóa toàn bộ hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực… Các nhóm chính sách khác cũng nhằm kiến tạo phát triển, để di sản, văn hóa được chuyển hóa thành dòng tiền như quy định Nhà nước thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với khoản vay được bảo đảm bằng tài sản trí tuệ; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với các mô hình kinh doanh mới và hoạt động công nghiệp văn hóa…

PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, tài nguyên văn hóa chỉ thực sự trở thành lợi thế phát triển sau quá trình chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm và các hình thức biểu đạt có khả năng đi vào đời sống xã hội. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đều đặt ra yêu cầu phát triển môi trường sáng tạo, phát huy nguồn lực văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đây chính là giai đoạn bước ngoặt, hình thành nền tảng phát triển ổn định cho lực lượng sáng tạo.

Trước hết cần nhanh chóng hoàn thiện thể chế theo hướng tạo lập môi trường thuận lợi cho sáng tạo được hình thành, thử nghiệm và phát triển, thông qua các cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo, mở rộng các hình thức hợp tác công - tư... Cùng với đó, đầu tư bài bản cho hạ tầng sáng tạo xã hội, bao gồm hệ thống không gian sáng tạo, các chương trình đào tạo, ươm tạo và kết nối thị trường, từng bước hình thành các chuỗi giá trị sáng tạo có khả năng cạnh tranh và lan tỏa.

“Quan trọng hơn cả là tạo dựng được một tinh thần đồng hành thực chất giữa Nhà nước, cộng đồng sáng tạo và doanh nghiệp. Khi sáng tạo được nhìn nhận đúng vị thế, được bảo đảm bằng những cơ chế phù hợp và được đặt vào các bài toán phát triển cụ thể của địa phương, lực lượng sáng tạo sẽ trở thành động lực nội sinh quan trọng cho phát triển văn hóa và kinh tế sáng tạo của đất nước trong giai đoạn mới”, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương nhận định.

Theo báo Đại biểu nhân dân

Cùng chuyên mục
Văn hóa tạo nên sức mạnh của quốc gia biển
Muốn trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần mạnh về kinh tế và năng lực bảo vệ chủ quyền, mà còn cần một nền văn hóa biển mạnh, đủ sức trở thành nguồn lực phát triển, sức mạnh mềm và những “cột mốc chủ quyền” bền vững trong lòng mỗi người Việt Nam.
Từ giữ di sản đến sống cùng di sản
Di sản văn hóa không chỉ là những giá trị cần được gìn giữ từ quá khứ, mà còn có thể trở thành nguồn lực cho sáng tạo, phát triển trong hiện tại. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa được xác định là một động lực mới, yêu cầu đặt ra là đưa di sản ra khỏi không gian bảo tồn thuần túy để trở thành một phần của đời sống đương đại.
Tri thức dân gian “Văn hóa trà Thái Nguyên” hướng tới danh hiệu di sản quốc gia
Thái Nguyên đang lập hồ sơ đề nghị ghi danh Tri thức dân gian "Văn hóa trà Thái Nguyên" vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Phương Mỹ Chi mang văn hóa Khmer lên màn ảnh qua MV âm nhạc đậm tính điện ảnh
Tối 12/8, Phương Mỹ Chi chính thức trở lại đường đua âm nhạc với MV “Thiên Đường Với Người Thương”, sản phẩm mở ra một chương mới trong hành trình nghệ thuật của nữ ca sĩ.
Mở rộng phạm vi phát triển công nghiệp văn hóa phù hợp với yêu cầu hội nhập
Góp ý dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa tại Hội thảo lấy ý kiến dự án Luật khu vực miền Bắc, ông Nguyễn Trường Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, đề nghị cân nhắc mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của dự thảo theo hướng bao quát hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa trên lãnh thổ Việt Nam và nước ngoài, phù hợp với chủ trương hội nhập kinh tế.
EMC Đã kết nối EMC