Từ góc nhìn doanh nghiệp về một ngành kinh tế sáng tạo
Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngày 5/8/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã gửi văn bản xin ý kiến các hội, hiệp hội, doanh nghiệp đối với dự án Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa. Đến ngày 28/8/2026, Bộ đã nhận được 7 ý kiến của doanh nghiệp và 2 ý kiến của hội, hiệp hội. Các ý kiến đến từ những doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ, viễn thông, truyền thông, quảng cáo, đầu tư và khởi nghiệp sáng tạo.
Uỷ viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng đã chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hoá khu vực miền Bắc vào ngày 11/8 vừa qua
Một trong những nội dung được quan tâm là cách xác định bản chất của công nghiệp văn hóa. Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp công nghệ, Tập đoàn Viettel đề nghị sửa định nghĩa công nghiệp văn hóa theo hướng nhấn mạnh đây là ngành kinh tế sáng tạo, dựa trên tài nguyên văn hóa, tài sản trí tuệ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; được tổ chức theo chuỗi giá trị từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến thương mại hóa, qua đó tạo ra giá trị kinh tế, giá trị xã hội và sức mạnh mềm quốc gia.
Theo cơ quan chủ trì soạn thảo, ý kiến này được tiếp thu, chỉnh sửa trong dự thảo. Đây là một đề xuất có ý nghĩa trong việc làm rõ cách tiếp cận đối với công nghiệp văn hóa khi nhìn nhận văn hóa dưới góc độ bảo tồn, hưởng thụ hay cung cấp sản phẩm, dịch vụ, đồng thời đặt hoạt động sáng tạo trong một chuỗi giá trị kinh tế hoàn chỉnh.
Cùng theo hướng đó, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Quỹ Khởi nghiệp Sáng tạo Việt Nam (VNFUND) đề nghị định nghĩa công nghiệp văn hóa theo chuỗi từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, thương mại hóa, tiêu dùng đến tái đầu tư. Đề xuất này cũng được cơ quan soạn thảo tiếp thu, chỉnh sửa dự thảo.
Cách tiếp cận trên mở rộng đáng kể không gian của công nghiệp văn hóa. Một sản phẩm sáng tạo, sau khi được hình thành, không dừng lại ở khâu đưa ra thị trường mà có thể tiếp tục được khai thác, phát triển thành những sản phẩm mới, tạo thêm giá trị và quay trở lại đầu tư cho hoạt động sáng tạo.
Trong bối cảnh công nghệ đang làm thay đổi phương thức sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm văn hóa, nhiều ý kiến doanh nghiệp tập trung vào vai trò của hạ tầng số. Liên minh các công ty công nghệ Việt Nam, trong đó có Tập đoàn Công nghệ Bkav, đề nghị bổ sung nguyên tắc công nghệ số, dữ liệu và đổi mới sáng tạo là hạ tầng nền tảng, xuyên suốt chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp văn hóa. Đề xuất này được tiếp thu, chỉnh sửa dự thảo.
Xây dựng thị trường công nghiệp văn hóa khi chuyển dịch từ sáng tạo giá trị đến quản trị, khai thác và tái đầu tư giá trị
Đây là một trong những điểm cho thấy sự thay đổi về cách tiếp cận đối với công nghiệp văn hóa trong môi trường số. Công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ sản xuất, mà ngày càng tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành sản phẩm, lưu trữ dữ liệu, phân phối nội dung, kết nối người sáng tạo với thị trường và mở rộng khả năng tiếp cận công chúng.
Ở một góc độ cụ thể hơn, Tổng công ty Viễn thông MobiFone đề nghị làm rõ phạm vi hạ tầng văn hóa số và cơ chế huy động nguồn lực xã hội; trong đó đề cập tới trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, mạng 5G/6G, kho dữ liệu văn hóa số, nền tảng phân phối nội dung số, nền tảng giao dịch tài sản trí tuệ và thanh toán số phục vụ công nghiệp văn hóa.
Những đề xuất này cho thấy doanh nghiệp viễn thông, công nghệ nhìn nhận sự phát triển của công nghiệp văn hóa trong mối quan hệ chặt chẽ với quá trình phát triển hạ tầng số quốc gia.
Hoàn thiện chuỗi giá trị để tăng giá trị của tài sản sáng tạo
Một điểm đáng chú ý trong các ý kiến của doanh nghiệp là việc mở rộng khái niệm “chuỗi giá trị” của công nghiệp văn hóa. VNFUND đề nghị bổ sung các công đoạn như nghiên cứu thị trường, xác định khách hàng mục tiêu, cấp phép, nhượng quyền, quản trị tiền bản quyền, xúc tiến đầu tư, xuất khẩu và tái khai thác tài sản trí tuệ trên nhiều ngành. Cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh sửa dự thảo theo hướng này.
Doanh nghiệp đề nghị bổ sung chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp công nghiệp văn hóa Việt Nam có năng lực làm chủ công nghệ, tài sản trí tuệ, nền tảng số, thương hiệu và mạng lưới phân phối
Đây là một góc nhìn có ý nghĩa đối với quá trình thương mại hóa các sản phẩm văn hóa. Một tác phẩm, một ý tưởng hay một tài sản trí tuệ chỉ thực sự phát huy hết giá trị khi có khả năng tiếp cận thị trường, được cấp phép hoặc nhượng quyền phù hợp, tạo ra doanh thu và tiếp tục được khai thác trong những lĩnh vực khác.
Đặc biệt, việc đưa quản trị tiền bản quyền vào chuỗi giá trị cho thấy bản quyền ngày càng được nhìn nhận không chỉ là vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền, mà còn là một cấu phần của hoạt động kinh tế, gắn với dòng tiền, đầu tư và khả năng tái khai thác tài sản sáng tạo.
Ở khía cạnh này, những ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp đã góp thêm một góc nhìn thực tiễn cho mục tiêu xây dựng thị trường công nghiệp văn hóa khi chuyển dịch từ sáng tạo giá trị đến quản trị, khai thác và tái đầu tư giá trị.
Từ yêu cầu phát triển chuỗi giá trị, doanh nghiệp cũng quan tâm đến việc xác định đầy đủ các chủ thể tham gia hệ sinh thái. Viettel đề nghị bổ sung chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp công nghiệp văn hóa Việt Nam có năng lực làm chủ công nghệ, tài sản trí tuệ, nền tảng số, thương hiệu và mạng lưới phân phối; đồng thời hỗ trợ hình thành doanh nghiệp, tập đoàn công nghiệp văn hóa có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị, liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp và các chủ thể sáng tạo. Nội dung này được tiếp thu, bổ sung tại khoản 8 Điều 6.
Đề xuất cho thấy vai trò của doanh nghiệp được đặt trong một hệ sinh thái rộng hơn. Bên cạnh những doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ sinh thái còn cần sự tham gia của doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, cá nhân sáng tạo và các tổ chức hỗ trợ.
Cũng theo hướng mở rộng hệ sinh thái, VNFUND đề nghị bổ sung các chủ thể như tổ chức tín dụng, quỹ bảo lãnh tín dụng, tổ chức thẩm định giá, kiểm toán, bảo hiểm, tư vấn đầu tư, tư vấn pháp lý, tổ chức quản lý tập thể quyền và nền tảng phân phối xuyên biên giới.
Như vậy, từ góc nhìn doanh nghiệp, công nghiệp văn hóa không phải là hoạt động riêng lẻ của một nhóm ngành, mà cần sự tham gia của tài chính, công nghệ, pháp lý, bảo hiểm, đầu tư, phân phối và các dịch vụ hỗ trợ để hình thành một thị trường hoàn chỉnh.
Đưa tài sản trí tuệ vào trung tâm của thị trường
Thị trường công nghiệp văn hóa với tài sản trí tuệ được đặt trong một hệ thống có khả năng xác lập giá trị, giao dịch và tạo dòng tiền
Một nội dung nổi bật khác là đề xuất của VNFUND về sàn giao dịch công nghiệp văn hóa. Theo góp ý, sàn giao dịch có thể được xác định là hạ tầng thị trường với chức năng niêm yết, giao dịch sản phẩm, quyền tác giả, quyền liên quan, quyền khai thác, quyền cấp phép, nhượng quyền và dòng tiền bản quyền; đồng thời tích hợp các dịch vụ định giá, pháp lý, bảo hiểm, thanh toán và tài chính.
Dù phần giải trình của cơ quan soạn thảo đề nghị giữ nguyên dự thảo ở nội dung này, ý kiến của doanh nghiệp vẫn đề xuất một cách nhìn đáng chú ý về thị trường công nghiệp văn hóa với tài sản trí tuệ được đặt trong một hệ thống có khả năng xác lập giá trị, giao dịch và tạo dòng tiền.
Cùng với đó, một số góp ý tập trung vào việc kết nối dữ liệu, mã định danh, hồ sơ tài sản trí tuệ và các cơ sở dữ liệu hiện có. Phần giải trình cho biết dự thảo tiếp thu theo hướng quy định việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Những nội dung này nếu được triển khai đồng bộ sẽ góp phần tạo nền tảng thông tin cho quá trình xác lập, quản lý và khai thác tài sản trí tuệ trong công nghiệp văn hóa.
Một đề xuất đáng chú ý khác đến từ cộng đồng doanh nghiệp công nghệ là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Cụ thể, trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, nhiều mô hình mới xuất hiện nhanh, đặc biệt trong lĩnh vực số. Vì vậy, VNPT đề nghị quy định rõ hơn về thời hạn thử nghiệm và nguyên tắc xử lý hồ sơ, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong đổi mới sáng tạo. Phần giải trình xác định tiếp thu đối với đề xuất này.
Trong khi đó, Liên minh các công ty công nghệ Việt Nam/Bkav đề xuất cách tiếp cận sandbox theo hướng quản lý dựa trên rủi ro, ngưỡng và hậu kiểm; đồng thời đề nghị xác định những nghĩa vụ cần được tuân thủ ngay từ ngày đầu thử nghiệm, như bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng, bảo vệ trẻ em, quyền sở hữu trí tuệ, chống gian lận và bảo vệ người tiêu dùng. Nội dung về nghĩa vụ này được tiếp thu.
Đây là cách tiếp cận hài hòa giữa yêu cầu khuyến khích đổi mới sáng tạo và bảo đảm trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường. Đối với công nghiệp văn hóa, nơi các mô hình kinh doanh mới có thể xuất hiện cùng với sự phát triển của AI, game, nền tảng số, thực tế ảo và các hình thức phân phối nội dung mới, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát có thể tạo thêm không gian để những ý tưởng mới được kiểm chứng trong khuôn khổ pháp luật.
Từ những đóng góp trên, có thể thấy cộng đồng doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến các cơ chế hỗ trợ trực tiếp, mà còn đặt vấn đề về cách thức hình thành thị trường, phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng khả năng thương mại hóa tài sản sáng tạo.
Đây cũng là một trong những giá trị quan trọng của quá trình lấy ý kiến đối với dự thảo Luật: chính những kinh nghiệm từ thị trường, từ công nghệ, đầu tư và hoạt động sáng tạo đang giúp chính sách có thêm cơ sở thực tiễn để hoàn thiện.
Với định hướng đó, Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý thuận lợi hơn để văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế, công nghệ trở thành động lực, tài sản trí tuệ trở thành nguồn giá trị và doanh nghiệp trở thành một trong những lực lượng quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam.