Lên đầu trang
Aa
Tin tức và sự kiện
Thứ Ba, 30/6/2026 21:00 (GMT+7)
Điện ảnh bước vào thời đại dồi dào năng lực sáng tạo
Chiều 30/6, tại thành phố Đà Nẵng, đã diễn ra Hội thảo "Trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong điện ảnh". Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Liên hoan Phim châu Á Đà Nẵng lần thứ IV (DANAFF IV).

Hội thảo "Trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong điện ảnh" được tổ chức nhằm tạo diễn đàn trao đổi giữa các nhà nghiên cứu, chuyên gia công nghệ, luật gia, nhà quản lý và đại diện doanh nghiệp trong nước, quốc tế về những tác động của AI đối với ngành điện ảnh, đồng thời thảo luận các giải pháp bảo vệ quyền tác giả và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp điện ảnh trong bối cảnh chuyển đổi số.

Các đại biểu tham dự Hội thảo.

Phát biểu tại Hội thảo, Uỷ viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng cho rằng, đây không chỉ là Hội thảo về một công nghệ mới, mà đây là một cuộc trao đổi rất cần thiết về tương lai của điện ảnh Việt Nam. Chúng ta sẽ sáng tạo, phân phối, bảo vệ giá trị sáng tạo, tổ chức thực thi như thế nào trong một thời đại mà nội dung có thể được tạo ra, sao chép, chỉnh sửa và lan truyền với tốc độ chưa từng có.

"Nếu nhìn vào các mục tiêu lớn của đất nước, chúng ta thấy áp lực đổi mới là rất rõ. Bởi, Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030 đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa bố trí nguồn lực tương đối lớn trong tương quan nguồn lực chung của đất nước, với tổng vốn giai đoạn 2025 - 2030 tối thiểu trên 120 nghìn tỷ đồng. Như vậy, văn hoá phải trở thành một sức mạnh nội sinh cho sự phát triển nhanh và bền vững của Đất nước, trong đó, “nghệ thuật thứ bảy” có vị trí rất đặc biệt"- Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng đặt vấn đề.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, năm 2025, doanh thu phòng vé Việt Nam đạt gần 5.600 tỷ đồng, với hơn 70 triệu lượt vé bán ra; phim Việt chiếm khoảng 62% thị phần phim ra rạp. Năm 2025 cũng ghi nhận trên 50 phim Việt phát hành, mức cao nhất trong khoảng một thập kỷ. Điều đó cho thấy điện ảnh Việt Nam đã là một ngành kinh tế sáng tạo có quy mô, có khán giả, có dữ liệu, có dòng tiền và có trách nhiệm pháp lý.

Nhưng cũng trong bức tranh ấy, số lượt xem phim tại rạp bình quân của người Việt Nam mới khoảng 0,7 lần/người/năm, thấp hơn một số thị trường trong khu vực như Malaysia (1 lần/người/năm) hay Singapore (1,3 lần/người/năm), nghĩa là dư địa tăng trưởng còn rất lớn.

Nếu chúng ta làm tốt hơn về chất lượng nội dung, phân phối số, quảng bá, bảo vệ bản quyền và trải nghiệm khán giả, điện ảnh Việt Nam còn có thể đi xa hơn nhiều so với kết quả hiện nay.

Ở chiều ngược lại, trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi rất nhanh cấu trúc chi phí và cấu trúc năng lực của ngành điện ảnh. Một số nghiên cứu quốc tế dự báo thị trường AI trong làm phim có thể tăng từ hơn 3 tỷ USD năm 2024 lên trên 20 tỷ USD vào đầu thập niên 2030. Nhiều thử nghiệm cho thấy AI có thể hỗ trợ viết kịch bản, dựng bản phác thảo cảnh quay (storyboard), tiền kỳ, hậu kỳ, kỹ xảo hình ảnh, lồng tiếng, phụ đề, phục chế, phân tích khán giả và quảng bá. Những việc trước đây cần nhiều tháng, nhiều đội ngũ, nhiều ngân sách, nay có thể được làm nhanh hơn, rẻ hơn và cá nhân hóa hơn.

Dẫn chứng về một ví dụ rất cụ thể đang diễn ra ngay cạnh Việt Nam, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết: Năm 2024, thị trường phim ngắn Trung Quốc đạt quy mô khoảng 7 tỷ USD và được dự báo tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới, trong đó phim ngắn do AI tạo ra chiếm tỷ trọng ngày càng lớn.

Chỉ trong quý đầu năm 2026, toàn ngành ra mắt khoảng 128.000 bộ phim, phần lớn do AI tạo ra. Nhưng một nghịch lý đáng chú ý: Phim có diễn viên người thật tuy ít hơn rất nhiều về số lượng, nhưng lại thu hút lượt xem cao hơn đáng kể. Tốc độ không thay thế được cảm xúc. Hệ quả pháp lý cũng xuất hiện ngay sau khi nhiều diễn viên phát hiện hình ảnh của mình bị tái tạo mà không có sự đồng ý, buộc cơ quan quản lý phải ban hành quy định mới.

Đây là bức tranh sống động về cả cơ hội lẫn rủi ro mà AI đang mang tới. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Việt Nam sẽ học được gì và sẽ tránh được gì?

Dự báo thị trường AI trong làm phim có thể tăng từ hơn 3 tỷ USD năm 2024 lên trên 20 tỷ USD vào đầu thập niên 2030.

Điện ảnh đang bước từ thời đại khan hiếm công cụ sang thời đại dồi dào năng lực sáng tạo

Cũng theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, nếu chỉ nhìn AI như một chiếc máy giúp làm phim nhanh hơn và rẻ hơn thì chúng ta mới nhìn thấy một nửa vấn đề. Nửa còn lại quan trọng hơn: Khi chi phí tạo nội dung giảm xuống rất thấp, thì chi phí để xác định nguồn gốc, xác định quyền, xác định trách nhiệm và bảo vệ niềm tin của thị trường lại tăng lên rất cao.

Trước đây, để làm giả một cảnh quay, giọng nói, gương mặt, bản nhạc, hay trích đoạn phim, người ta cần nhiều năng lực kỹ thuật. Bây giờ, một người bình thường cũng có thể tạo ra những nội dung có sức thuyết phục cao. Hay trước đây, vi phạm bản quyền có thể là sao chép một bản phim. Bây giờ, vi phạm có thể là cắt, ghép, tóm tắt, biến đổi, huấn luyện mô hình, tạo bản sao số của diễn viên, sử dụng giọng nói hoặc hình ảnh mà người liên quan không biết, không đồng ý và không được hưởng lợi.

Vì vậy, câu hỏi của Hội thảo hôm nay là chúng ta sẽ dùng AI để giải quyết bài toán nào của điện ảnh Việt Nam, đo hiệu quả bằng gì, bảo vệ quyền của ai và tổ chức thực thi ra sao? Hội thảo này cần giúp chúng ta đi từ nhận thức sang hành động, từ công nghệ sang kết quả đo lường được về hiệu quả.

Trên cơ sở đó, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng đã gợi mở một khung tư duy gồm 1 thay đổi lớn, 3 điều không đổi, 5 nhóm việc cụ thể và 1 yêu cầu về tổ chức thực thi.

Về một thay đổi lớn, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nhận định, Điện ảnh đang bước từ thời đại khan hiếm công cụ sang thời đại dồi dào năng lực sáng tạo.

Trong nhiều thập kỷ, làm phim là công việc đòi hỏi thiết bị đắt tiền, nhân lực chuyên môn sâu, trường quay, hậu kỳ, phát hành và quảng bá với chi phí lớn. Công nghệ số đã làm giảm một phần rào cản đó. AI sẽ tiếp tục làm giảm mạnh hơn nữa. Một nhóm nhỏ có thể thử ý tưởng nhanh hơn. Một nhà sản xuất độc lập có thể dựng nhiều phương án hình ảnh hơn. Một bộ phim Việt có thể được lồng tiếng, phụ đề, quảng bá tới nhiều thị trường hơn. Một kho phim cũ có thể được phục chế. Một chiến dịch truyền thông có thể hiểu khán giả tốt hơn.

Đó là cơ hội lớn. Nhưng cơ hội này không tự động biến thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, công nghệ mới chỉ tạo ra khả năng. Năng lực cạnh tranh có lẽ chỉ thực sự hình thành khi chúng ta chọn đúng bài toán, có dữ liệu đúng, có quy trình đúng và có cơ chế đo lường.

Tôi rất tâm đắc với một cách nói: Giai đoạn đầu của AI là cuộc đua xem máy có thể làm được gì. Giai đoạn tiếp theo của AI là cuộc đua xem con người chọn việc gì để giao cho máy, giữ lại việc gì cho con người và đo giá trị tạo ra như thế nào. Đối với điện ảnh Việt Nam, đây là điểm mấu chốt. Chúng ta không chạy theo AI để cho thấy mình “cũng có AI”. Chúng ta dùng AI để giải những điểm nghẽn thật: chi phí cao, thời gian dài, thiếu dữ liệu thị trường, thiếu dữ liệu khán giả, vi phạm bản quyền, phân phối quốc tế còn yếu, kho di sản chưa được khai thác, thiếu nhân lực kết hợp giữa nghệ thuật, pháp lý và công nghệ” – Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng chia sẻ.

Bên cạnh đó, theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, cần chuyển từ tư duy “làm phim” sang tư duy “tạo tài sản điện ảnh”.

Bởi, một bộ phim không kết thúc khi rời rạp mà có đời sống trên nền tảng số, truyền hình, giáo dục, du lịch, phái sinh nhân vật, âm nhạc, trò chơi và giao lưu quốc tế. Nếu chỉ nhìn bộ phim như một tác phẩm đơn lẻ, chúng ta sẽ bỏ lỡ giá trị dài hạn. Nếu nhìn bộ phim như một tài sản sở hữu trí tuệ, chúng ta sẽ phải quản trị kịch bản, âm nhạc, hình ảnh, nhân vật, diễn viên, dữ liệu sản xuất, quyền phân phối và quyền khai thác ngay từ ngày đầu tiên. Đó có lẽ là tư duy phù hợp hơn cho giai đoạn điện ảnh chúng ta đang bước vào”- Thứ trưởng lý giải.

Uỷ viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng phát biểu tại Hội thảo

Chia sẻ về 3 điều không đổi, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết: Điều không đổi thứ nhấtCon người vẫn là trung tâm của điện ảnh

Điện ảnh trước hết là câu chuyện của con người. Công nghệ có thể tạo hình ảnh, âm thanh, bối cảnh, chuyển động. Nhưng công nghệ không thay thế được trải nghiệm sống, ký ức văn hóa, nỗi đau, niềm vui, lòng trắc ẩn, sự quan sát tinh tế và trách nhiệm xã hội của người sáng tạo. Một bộ phim tốt không chỉ là một chuỗi hình ảnh đẹp. Một bộ phim tốt phải chạm được tới đời sống, đặt được câu hỏi đúng, gợi được cảm xúc thật và đọng lại cảm xúc, tư duy trong lòng khán giả. Vì vậy, khi nói về AI trong điện ảnh, không nên bắt đầu bằng tâm thế sợ hãi rằng máy móc sẽ thay con người. Cũng không nên bắt đầu bằng tâm thế dễ dãi rằng cứ có công cụ mới thì sẽ có tác phẩm mới.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh, AI có thể là công cụ mở rộng năng lực sáng tạo của con người, nhưng con người nên giữ vai trò lựa chọn, kiểm soát, chịu trách nhiệm và thụ hưởng giá trị tương xứng với đóng góp của mình.

Điều này đặc biệt quan trọng với đạo diễn, biên kịch, diễn viên, quay phim, dựng phim, nhạc sĩ, họa sĩ thiết kế, kỹ thuật viên hậu kỳ và rất nhiều vị trí nghề nghiệp trong ngành. Khi một giọng nói có thể được mô phỏng, khi một gương mặt có thể được tái tạo, khi một phong cách hình ảnh có thể được học lại, thì quyền của người sáng tạo không thể chỉ được bảo vệ bằng những hợp đồng cũ và thói quen cũ.

Có lẽ đây là lúc ngành điện ảnh cần đặt ra những chuẩn mới về đồng ý, minh bạch, ghi nhận, trả thù lao và gỡ bỏ khi quyền bị xâm phạm. AI có thể làm cho sản xuất rẻ hơn, nhưng không được làm cho lao động sáng tạo trở nên rẻ đi. AI có thể làm cho hình ảnh phong phú hơn, nhưng không được làm cho quyền của con người trở nên mờ đi.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nêu bật bốn nguyên tắc đáng làm kim chỉ nam trong khai thác hình ảnh, giọng nói và dữ liệu sáng tạo của con người trong môi trường AI: đồng thuận, minh bạch, thù lao hợp lý và trách nhiệm giải trình. Thiếu một trong bốn điều đó, quyền người sáng tạo khó được bảo vệ thực chất.

"Nếu chỉ xử lý từng vụ việc, từng đường link, từng trang web, chúng ta sẽ luôn đi sau. Có lẽ cần chuyển từ tư duy “đi dọn vi phạm” sang tư duy “thiết kế hệ thống để vi phạm khó sống, khó kiếm tiền, khó tái phát”

Điều không đổi thứ haiQuyền sở hữu trí tuệ là “hạ tầng” của niềm tin”, theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, nhiều người vẫn nghĩ sở hữu trí tuệ là câu chuyện pháp lý, là việc của luật sư, là phần cuối cùng sau khi bộ phim đã làm xong. Cách nghĩ đó không còn phù hợp.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng khẳng định, trong kỷ nguyên số, sở hữu trí tuệ phải được xem là “hạ tầng” của thị trường sáng tạo. Khi thiếu hạ tầng đó, nhà sản xuất khó yên tâm đầu tư dài hạn, nghệ sĩ khó được trả công xứng đáng, nền tảng hợp pháp khó cạnh tranh với nội dung vi phạm và người dùng khó phân biệt đâu là thật, đâu là giả.

Chúng ta đã thấy những trang web vi phạm bị xử lý nhưng biến thể mới lại xuất hiện. Chúng ta thấy các nội dung review phim, tóm tắt phim, trích đoạn phim, livestream phim, chia sẻ file, lồng tiếng lại, gắn quảng cáo, đổi tên miền, chuyển máy chủ.  Nếu chỉ xử lý từng vụ việc, từng đường link, từng trang web, chúng ta sẽ luôn đi sau. Có lẽ cần chuyển từ tư duy “đi dọn vi phạm” sang tư duy “thiết kế hệ thống để vi phạm khó sống, khó kiếm tiền, khó tái phát” – Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nói.

Điều không đổi thứ baDữ liệu là tài sản gốc của điện ảnh số, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng chia sẻ: Điện ảnh số không chỉ là chiếu phim trên nền tảng số. Điện ảnh số là toàn bộ chuỗi giá trị được đo, được kết nối và được quản trị bằng dữ liệu: Từ kịch bản, bối cảnh, diễn viên, giấy phép, lịch quay, hậu kỳ, phát hành, phòng vé, OTT (các nền tảng xem phim trực tuyến), quảng bá, phản hồi khán giả, bản quyền, khiếu nại vi phạm, đến khai thác lâu dài kho phim.

Nếu không có dữ liệu, chúng ta không biết thị trường thật sự đang diễn ra như thế nào. Nếu không có chuẩn dữ liệu, mỗi đơn vị sẽ báo cáo một kiểu, mỗi nền tảng lưu một kiểu, mỗi địa phương quản một kiểu. Nếu không có dữ liệu quyền, một bộ phim đi qua nhiều vòng khai thác sẽ dễ phát sinh tranh chấp. Nếu không có dữ liệu nguồn gốc, nội dung AI tạo ra hoặc chỉnh sửa sẽ rất khó kiểm chứng.

"Đây cũng chính là tinh thần mà dự thảo Nghị định về hạ tầng văn hóa số đang được Bộ xây dựng hướng tới: Thiết lập hạ tầng dữ liệu văn hóa số quốc gia, trong đó dữ liệu điện ảnh là một cấu phần, được kết nối, chuẩn hóa và dùng chung để phục vụ cả quản lý lẫn phát triển ngành"- Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nêu.

Xây dựng hệ thống dữ liệu và bảo vệ quyền cho điện ảnh Việt Nam

Từ ba điều không đổi đó, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng đã gợi mở về 5 nhóm việc cụ thể.

Thứ nhất, “Xây dựng hệ thống dữ liệu và bảo vệ quyền cho điện ảnh Việt Nam”, cần nhìn điện ảnh như một hệ sinh thái dữ liệu quốc gia của ngành văn hóa.  Trong hệ sinh thái đó, cơ quan quản lý không chỉ nhận hồ sơ và cấp phép mà là thiết kế tiêu chuẩn, kết nối dữ liệu, giám sát dòng chảy nội dung, đo hiệu quả chính sách và tạo điều kiện cho thị trường phát triển lành mạnh.

Dự thảo Nghị định về hạ tầng văn hóa số có quy định về Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, nền tảng số dùng chung và cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị. Ngành điện ảnh nên tận dụng nền tảng chung này thay vì xây riêng từng mảnh, vừa tốn nguồn lực vừa khó kết nối.

Bộ VHTTDL sẽ phát triển một lớp hạ tầng dùng chung ở cấp quốc gia: dữ liệu phim, dữ liệu bản quyền, dữ liệu phòng vé, dữ liệu vi phạm, dữ liệu bối cảnh quay, dữ liệu kho phim và các tiêu chuẩn kết nối.

34 địa phương, mỗi địa phương cần có dữ liệu về địa điểm quay, thủ tục hỗ trợ đoàn phim, tài nguyên văn hóa, lịch sử, du lịch, nhân lực và dịch vụ liên quan. Các nhà sản xuất, rạp chiếu, nền tảng OTT, mạng xã hội, doanh nghiệp công nghệ, hiệp hội nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, quỹ hỗ trợ, nhà đầu tư và cộng đồng sáng tạo cùng tham gia.

"Cần nhìn điện ảnh như một hệ sinh thái dữ liệu quốc gia của ngành văn hóa.  Trong hệ sinh thái đó, cơ quan quản lý không chỉ nhận hồ sơ và cấp phép mà là thiết kế tiêu chuẩn, kết nối dữ liệu, giám sát dòng chảy nội dung, đo hiệu quả chính sách và tạo điều kiện cho thị trường phát triển lành mạnh".

Như vậy, sẽ có một hệ sinh thái trong đó mỗi bộ phim có một hồ sơ số; mỗi quyền có một địa chỉ; mỗi giao dịch có dấu vết; mỗi dữ liệu thị trường có nguồn; mỗi vi phạm có cơ chế phát hiện và xử lý; mỗi địa phương có thể biến tài nguyên văn hóa thành cơ hội thu hút sản xuất phim và du lịch.

Trong nhóm việc này, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng đã đưa ra 3 dự án rất cụ thể đáng được ưu tiên gồm: Hệ thống dữ liệu phòng vé và phát hành theo thời gian gần thực, để thị trường minh bạch hơn, chính sách có căn cứ hơn, quỹ hỗ trợ có cơ sở hơn; Bản đồ phim trường và bối cảnh quay số, để địa phương không chỉ “chờ đoàn phim đến”, mà chủ động mời gọi, hỗ trợ, khai thác giá trị sau khi phim ra mắt; Kho dữ liệu quyền và vân tay số nội dung, để phục vụ cấp phép, phân phối hợp pháp và phát hiện vi phạm.

Về bản đồ bối cảnh quay phim, theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng , đây là việc rất cụ thể, rất đáng làm và chúng ta đang có thời điểm chín muồi để làm. Bằng chứng ngay trong nước: “Kong: Skull Island” quay phần lớn ngoại cảnh tại Tràng An, Ninh Bình; năm 2024 tỉnh Ninh Bình đón 8,7 triệu lượt khách, tăng 30%, với doanh thu du lịch tăng hơn 40%. “Mưa đỏ” phát hành năm 2025 đã đẩy lượng khách đến Thành cổ Quảng Trị lên mức kỷ lục, dù phim trường 50ha đã tháo dỡ. Ở Anh, mỗi đồng bảng đầu tư cho bản đồ địa điểm phim và du lịch điện ảnh thu về khoảng 20 đồng chi tiêu du lịch thực tế.

"Cục Điện ảnh đang xây dựng cổng thông tin bối cảnh quay phim, cho phép từng địa phương cập nhật, giới thiệu hình ảnh và dịch vụ hỗ trợ. Đây là nền tảng đúng hướng. Bước có thể làm tiếp là bổ sung giao diện bản đồ tương tác, chuẩn hóa các trường dữ liệu về điều kiện quay, giấy phép, đầu mối hỗ trợ và kết nối với nền tảng du lịch quốc gia. Khi đó, điện ảnh không chỉ đến địa phương để quay xong rồi đi. Điện ảnh trở thành cầu nối đưa du khách đến và cảnh quan Việt Nam trở thành tài sản được khai thác bền vững".

Về số hóa và phục chế di sản, theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, đây là lĩnh vực cần tăng tốc đáng kể. Với tốc độ số hóa hiện nay, kho phim nhựa rất lớn của chúng ta có thể cần nhiều thập kỷ để được số hóa đầy đủ. Di sản điện ảnh không chờ chúng ta. Mỗi cuốn phim xuống cấp là một phần ký ức bị mất đi. AI có thể hỗ trợ nhận dạng, làm sạch hình ảnh, phục chế âm thanh, tạo thông tin mô tả tác phẩm, phân loại và đưa di sản đến với công chúng trẻ bằng các hình thức mới. Nhưng số hóa di sản không chỉ là quét phim. Đó là quản trị quyền, mô tả dữ liệu, bảo quản và khai thác có chọn lọc để di sản trở lại đời sống như học liệu, cảm hứng sáng tạo và tài sản mềm của quốc gia.

Đưa quyền sở hữu trí tuệ vào ngay từ khâu thiết kế sản xuất

Chia sẻ về nhóm việc thứ hai, “Đưa quyền sở hữu trí tuệ vào ngay từ khâu thiết kế sản xuất”, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết: Trong sản xuất truyền thống, nhiều vấn đề bản quyền được xử lý ở cuối quy trình. Đến khi phát hành mới rà lại nhạc, hình ảnh, tư liệu, hợp đồng diễn viên, quyền phân phối. Trong kỷ nguyên AI, cách làm đó rủi ro rất lớn. Quyền nên được tính đến ngay từ ngày đầu tiên của dự án, chứ không phải sau khi phim đã làm xong.

Một dự án phim sử dụng AI cần ghi rõ: dữ liệu đầu vào lấy từ đâu; phần nào do AI tạo; phần nào do con người sáng tạo; có sử dụng hình ảnh, giọng nói, phong cách, tư liệu, âm nhạc của ai không; đã có sự đồng ý chưa; phạm vi đồng ý đến đâu; được khai thác ở thị trường nào; thời hạn bao lâu; thù lao tính như thế nào; nếu phát sinh phiên bản phái sinh thì quyền được chia ra sao.

Các hiệp hội nghề nghiệp, nhà sản xuất và cơ quan quản lý nên phối hợp xây dựng các mẫu hợp đồng mới cho bối cảnh AI. Đặc biệt là hợp đồng liên quan đến bản sao số của diễn viên, giọng nói, hình ảnh cá nhân, âm nhạc, dữ liệu huấn luyện, prompt, thiết kế nhân vật, kỹ xảo hình ảnh và khai thác trên nền tảng số. Khi hợp đồng rõ, thị trường sẽ bớt tranh chấp. Khi quyền rõ, nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn. Khi người sáng tạo được bảo vệ, họ sẽ sẵn sàng thử nghiệm công nghệ mới hơn.

Một hướng đáng cân nhắc là ngành điện ảnh có thể sớm tiếp cận các tiêu chuẩn về xuất xứ nội dung đang được phát triển trên thế giới. Bởi, trên thế giới, nhiều công nghệ như dấu nhận diện số (watermark), chữ ký số, thông tin nguồn gốc nội dung, chuẩn C2PA (bộ tiêu chuẩn quốc tế về thông tin nguồn gốc nội dung số), vân tay số đang được phát triển rất nhanh.

Chúng ta không nhất thiết phải tự làm mọi thứ từ đầu; một hướng đáng nghiên cứu là chọn sớm tiêu chuẩn phù hợp và áp dụng thống nhất. Một bức ảnh hậu trường, một đoạn teaser, một bản trailer, một trích đoạn, một bản phim phát hành, một nội dung AI tạo ra hoặc chỉnh sửa đều cần có thông tin nguồn gốc ở mức phù hợp, để khi có tranh chấp thì có bằng chứng số, không chỉ có lời giải thích.

5 nhóm bài toán đáng ưu tiên là: Phát triển kịch bản và tiền kỳ; Hậu kỳ, âm thanh, phụ đề và lồng tiếng phục vụ xuất khẩu; Phục chế và khai thác kho phim di sản; Phát hiện vi phạm bản quyền; và Phân tích khán giả để phát hành hiệu quả hơn.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng

Chuyển chống vi phạm bản quyền từ các chiến dịch sang năng lực vận hành thường xuyên

Ngoài ra, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho rằng, việc thứ ba cần thực hiện là Chuyển chống vi phạm bản quyền từ các chiến dịch sang năng lực vận hành thường xuyên

Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, chúng ta đã có nhiều nỗ lực xử lý vi phạm bản quyền. Nhưng thực tế cho thấy vi phạm trên môi trường số diễn biến nhanh, linh hoạt và có động cơ kinh tế rõ ràng.

Vi phạm hôm nay không chỉ là sao chép một bản phim lậu mà có thể là quay lén trong rạp, cắt phim thành hàng trăm đoạn ngắn, review hoặc tóm tắt phim vượt quá giới hạn trích dẫn hợp lý, phát lại trên nền tảng xuyên biên giới, dùng AI biến đổi hình ảnh để né phát hiện, hoặc tái sử dụng nhân vật, nhạc phim, lời thoại mà không xin phép. Trang này bị chặn thì trang khác xuất hiện. Tên miền này bị xử lý thì tên miền khác được dựng lên. Nếu mô hình kinh doanh vi phạm còn có quảng cáo, thanh toán, máy chủ, kênh phân phối và người dùng, thì vi phạm còn có đất sống.

Do đó, theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, chống vi phạm bản quyền trong điện ảnh nên được tổ chức như một năng lực vận hành thường xuyên, có dữ liệu, có công nghệ, có phối hợp liên ngành và có chỉ số đo lường.

Một câu hỏi đáng đặt ra là liệu chúng ta có thể xác định được một số chỉ số đơn giản nhưng đủ để theo dõi, chẳng hạn: thời gian trung bình từ khi phát hiện vi phạm đến khi gửi yêu cầu gỡ bỏ; thời gian trung bình từ khi gửi yêu cầu đến khi nền tảng xử lý; tỷ lệ nội dung vi phạm tái xuất hiện; số tên miền vi phạm bị chặn; số nguồn quảng cáo và thanh toán bị ngắt; số vụ việc đủ căn cứ chuyển xử lý hành chính hoặc hình sự; mức giảm truy cập vào các nguồn vi phạm; mức tăng doanh thu hợp pháp sau mỗi đợt xử lý.

Khi đo được như vậy, chống vi phạm bản quyền không còn là một hoạt động phong trào mà trở thành một phần của quản lý thị trường. Việc này cũng giúp các nền tảng hợp pháp, rạp chiếu, nhà sản xuất và nghệ sĩ thấy rằng sự tuân thủ của họ được bảo vệ.

Trong nhóm việc này, cần có kho dấu nhận diện số (còn gọi là vân tay nội dung) đối với tác phẩm điện ảnh; cơ chế tiếp nhận và xử lý yêu cầu gỡ bỏ nhanh; danh sách cảnh báo các nguồn vi phạm nghiêm trọng; phối hợp với nhà mạng, đơn vị quảng cáo, trung gian thanh toán và nền tảng xuyên biên giới; đồng thời tăng truyền thông để người dùng hiểu rằng xem miễn phí nội dung vi phạm không phải là vô hại. Đó là hành vi làm nghèo đi chính hệ sinh thái sáng tạo mà chúng ta muốn được hưởng thụ.

Dự thảo Nghị định về hạ tầng văn hóa số đang quy định xây dựng Sàn giao dịch bản quyền số và tài sản số, tích hợp vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia. Nếu điện ảnh tham gia sớm vào nền tảng này, việc cấp phép, giao dịch và xử lý vi phạm có thể được thực hiện có hệ thống hơn, thay vì xử lý từng vụ như hiện nay.

Chọn một số bài toán AI có hiệu quả đo được để làm trước

Đáng chú ý, một trong 5 nhóm việc này Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh là cần “Chọn một số bài toán AI có hiệu quả đo được để làm trước”. Bởi, trong chuyển đổi số, không phải cứ làm nhiều là tốt. Làm đúng việc mới quan trọng. Với AI cũng vậy. Nếu mỗi đơn vị thử một ít, trình diễn một ít, mua một vài công cụ, làm vài sản phẩm truyền thông, rồi không đo được kết quả, thì rất dễ tạo ra phong trào nhưng không tạo ra năng lực.

Điện ảnh Việt Nam nên chọn những bài toán có tác động rõ và có thể đo lường. 5 nhóm bài toán đáng ưu tiên là: Phát triển kịch bản và tiền kỳ; Hậu kỳ, âm thanh, phụ đề và lồng tiếng phục vụ xuất khẩu; Phục chế và khai thác kho phim di sản; Phát hiện vi phạm bản quyền; và Phân tích khán giả để phát hành hiệu quả hơn. Mỗi bài toán cần có chỉ số đo cụ thể.

Dự thảo Nghị định về Hạ tầng văn hóa số đặt mục tiêu xây dựng các công cụ AI chuyên ngành văn hóa được huấn luyện trên dữ liệu chuẩn hóa của Việt Nam, trong đó có các ứng dụng phục vụ số hóa, phân loại tài nguyên văn hóa, dịch thuật đa ngôn ngữ và tạo phụ đề tự động. Nghị định cũng đề cập nền tảng phim trường số và trường quay số phục vụ sản xuất và hậu kỳ. Đây là cơ sở hạ tầng chung mà ngành điện ảnh có thể khai thác, thay vì mỗi đơn vị tự đầu tư riêng lẻ.

Nếu mỗi năm ngành điện ảnh chọn một vài bài toán, triển khai thí điểm nghiêm túc, công bố kết quả, nhân rộng cái hiệu quả và dừng cái không hiệu quả, chúng ta sẽ tiến nhanh hơn rất nhiều so với việc nói chung chung rằng “cần ứng dụng AI”.

Quang cảnh Hội thảo

Tổ chức thực thi bằng đúng người, đúng việc, đúng chỉ số

Cuối cùng, việc thứ năm Tổ chức thực thi bằng đúng người, đúng việc, đúng chỉ số”, theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, mỗi chủ thể trong hệ sinh thái điện ảnh đều có một vai trò riêng trong giai đoạn này. Cơ quan quản lý có thể tập trung vào thiết kế tiêu chuẩn dữ liệu và hành lang pháp lý, để thị trường tự vận hành nhanh hơn thay vì chờ từng vụ việc được xử lý. Cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ và công nghệ có thể làm rõ dần các vấn đề pháp lý mới, đặc biệt là quyền đối với giọng nói, hình ảnh và bản sao số trong môi trường AI.

Các nền tảng số có thể chủ động hơn trong việc minh bạch với nội dung AI và tạo cơ chế phản hồi vi phạm nhanh hơn.  Các nhà sản xuất có thể bắt đầu thử nghiệm đưa thông tin quyền và nhật ký AI vào quy trình từ sớm, thay vì để đến cuối mới rà soát.  Nghệ sĩ và hiệp hội nghề nghiệp có thể tham gia xây dựng mẫu hợp đồng phù hợp với bối cảnh AI, thay vì dùng lại những mẫu hợp đồng cũ.

Với các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam, theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, đây là một thị trường rất cụ thể và hoàn toàn có thể tiếp cận: từ nhận diện số nội dung, phục chế phim, đến bản đồ phim trường và phát hiện vi phạm. Các trường đào tạo có thể tham khảo mô hình mà Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông thuộc Đại học Thái Nguyên đã thử nghiệm: hợp tác doanh nghiệp tư nhân, huy động gần 10.000 sinh viên đồng sản xuất phim hoạt hình 3D “Dế Mèn: Cuộc phiêu lưu tới Xóm Lầy Lội”, biến nhà trường thành môi trường thực chiến.

Và với công chúng, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là quy định mà là nhận thức: trả tiền cho nội dung hợp pháp là góp phần nuôi dưỡng chính nền điện ảnh mà mình muốn xem.

AI không thể thay thế kể câu chuyện Việt Nam

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng tin rằng điện ảnh Việt Nam có một lợi thế rất lớn. Đó là chúng ta có câu chuyện Việt Nam, con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, lịch sử Việt Nam và một thế hệ khán giả Việt Nam đang ngày càng đòi hỏi cao hơn.

AI không thể thay chúng ta kể câu chuyện Việt Nam. Nhưng AI có thể giúp chúng ta kể câu chuyện ấy tốt hơn, nhanh hơn, rộng hơn và xa hơn, nếu chúng ta làm chủ được công nghệ và bảo vệ được giá trị sáng tạo.

Một nền điện ảnh mạnh không chỉ được đo bằng vài bộ phim doanh thu cao. Một nền điện ảnh mạnh phải có thị trường minh bạch, người sáng tạo được tôn trọng, nhà đầu tư yên tâm, nền tảng tuân thủ, dữ liệu được chia sẻ hợp lý, di sản được khai thác, vi phạm bị xử lý, công nghệ được dùng đúng chỗ và khán giả được phục vụ tốt hơn.

Trong tương lai gần, Thứ trưởng mong muốn có thể nói về điện ảnh Việt Nam bằng những chỉ số rất cụ thể. Khi có những chỉ số đó, chính sách không còn nằm trên giấy. Chính sách trở thành việc làm. Việc làm trở thành kết quả. Kết quả trở thành niềm tin. Và niềm tin trở thành năng lực phát triển bền vững của ngành điện ảnh.

AI không thể thay chúng ta kể câu chuyện Việt Nam. Nhưng AI có thể giúp chúng ta kể câu chuyện ấy tốt hơn, nhanh hơn, rộng hơn và xa hơn, nếu chúng ta làm chủ được công nghệ và bảo vệ được giá trị sáng tạo.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng

Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, trước đây, khi nói về công nghệ trong điện ảnh, chúng ta thường kể nhiều câu chuyện của thế giới.

Hollywood làm gì, Hàn Quốc làm gì, châu Âu làm gì, các nền tảng toàn cầu làm gì. Những câu chuyện đó rất cần để học hỏi. Nhưng đã đến lúc Việt Nam phải bắt đầu kể câu chuyện của chính mình: một câu chuyện trong đó công nghệ không làm mờ đi bản sắc, mà giúp bản sắc được nhìn thấy rõ hơn; AI không làm yếu đi người sáng tạo, mà giúp người sáng tạo mạnh hơn; bảo vệ bản quyền không làm chậm thị trường, mà giúp thị trường đi nhanh hơn; quản lý nhà nước không đứng ngoài đổi mới, mà tạo điều kiện để đổi mới diễn ra đúng hướng.

"Và tất cả chúng ta mang về một nhận thức chung: điện ảnh trong kỷ nguyên AI không phải là cuộc đua giữa con người và máy móc. Đó là cuộc đua giữa những hệ sinh thái biết tổ chức thực thi và những hệ sinh thái chỉ dừng lại ở lo lắng hoặc hô hào" - Thứ trưởng nhấn mạnh.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng tin rằng nếu chọn đúng bài toán, đo đúng hiệu quả, bảo vệ đúng quyền, giao đúng việc và làm đến cùng, điện ảnh Việt Nam có thể bước vào một giai đoạn phát triển mới: Sáng tạo hơn, công bằng hơn, minh bạch hơn, có năng lực cạnh tranh cao hơn và đóng góp nhiều hơn cho công nghiệp văn hóa quốc gia.

"Câu hỏi không phải là công nghệ sẽ thay đổi điện ảnh hay không. Công nghệ đang thay đổi rồi. Câu hỏi là chúng ta sẽ để sự thay đổi đó diễn ra tự phát, hay sẽ cùng nhau thiết kế một hệ sinh thái điện ảnh số có bản sắc Việt Nam, có kỷ luật thị trường, có chuẩn mực nghề nghiệp và có khát vọng vươn ra thế giới.

Nếu chúng ta làm đúng, AI sẽ không làm mất đi bản chất điện ảnh mà sẽ giúp điện ảnh Việt Nam có thêm năng lực; sở hữu trí tuệ sẽ không làm chậm sáng tạo mà sẽ làm cho sáng tạo được trả công xứng đáng; chuyển đổi số sẽ không phải là một khẩu hiệu mà sẽ hiện ra trong từng quy trình ngắn hơn, từng hợp đồng rõ hơn, từng vi phạm được xử lý nhanh hơn, từng tác phẩm đi xa hơn" - Thứ trưởng nhận định./.

 

N.Thương (lược ghi)
Cùng chuyên mục
Sở hữu trí tuệ phải được xem là "hạ tầng" của thị trường sáng tạo
Ngày 30/6, tại thành phố Đà Nẵng, đã diễn ra Hội thảo "Trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong điện ảnh". Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Liên hoan Phim châu Á Đẵng Nẵng lần thứ IV (DANAFF IV). Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng tham dự Hội thảo.
DANAFF Industry Days: Kết nối, thúc đẩy phát triển công nghiệp điện ảnh Việt Nam
Ngày 30/6, tại thành phố Đà Nẵng, chương trình Kết nối ngành công nghiệp Điện ảnh (DANAFF Industry Days) chính thức khai mạc, nhằm tạo dựng một nền tảng gặp gỡ, trao đổi và hợp tác giữa các chuyên gia điện ảnh Việt Nam với các đối tác trong khu vực và trên thế giới.
Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Diễn đàn Văn hóa Việt Nam năm 2026: Gắn kết cộng đồng, khơi nguồn sáng tạo số
Diễn đàn Văn hóa Việt Nam trong Kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc, kết hợp Lễ tôn vinh các đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2026 dự kiến diễn ra vào tháng 8/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia.
Nhìn lại chặng đường đổi mới của điện ảnh Việt Nam
Ngày 29/6, tại thành phố Đà Nẵng đã diễn ra Hội thảo “Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới”. Đây là hoạt động trong khuôn khổ Liên hoan Phim châu Á Đà Nẵng lần thứ IV (DANAFF IV). Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông tham dự Hội thảo.
EMC Đã kết nối EMC