Quang (người dân tộc Cơ Tu) cùng khách khám phá vẻ đẹp của rừng Bạch Mã (thành phố Huế).
Theo số liệu từ Cục Thống kê, tháng 4/2026, Việt Nam đón 2,03 triệu lượt khách quốc tế, đưa tổng số khách quốc tế bốn tháng đầu năm đạt 8,8 triệu lượt, hoàn thành 35% mục tiêu năm 2026.
Đáng chú ý, đây là lần đầu trong bốn tháng liên tiếp, ngành du lịch lập kỷ lục đón hơn 2 triệu lượt khách quốc tế mỗi tháng. Ở thị trường nội địa, du lịch Việt Nam cũng ghi nhận sự tăng trưởng tích cực, với 51 triệu lượt khách bốn tháng đầu năm, tăng 7,4% so cùng kỳ năm trước.
Những con số này cho thấy sức hút ngày càng lớn của du lịch Việt Nam, song đồng thời cũng đặt ra áp lực không nhỏ đối với nguồn nhân lực du lịch vốn bị cho là còn thiếu và yếu.
Theo báo cáo năm 2024 của Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, thống kê sơ bộ, ngành du lịch nước ta có khoảng 2,5 triệu lao động, với 800.000 lao động trực tiếp, nhưng trong đó, chỉ có 45% đã qua đào tạo chuyên ngành du lịch, 55% là lao động từ ngành khác chuyển sang (35%) và chưa qua đào tạo (20%).
Đáng nói, trong số 42% số lao động được đào tạo về du lịch, chỉ có 10% có trình độ đại học và sau đại học, 50% có trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, 40% bồi dưỡng qua các lớp ngắn hạn.
Trong khi đó, quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 đặt mục tiêu đến 2030, ngành du lịch cần tạo ra khoảng 10,5 triệu việc làm, trong đó khoảng 3,5 triệu việc làm trực tiếp. Đây là khoảng trống lớn về nhân lực du lịch cần khỏa lấp, nếu muốn đáp ứng tốc độ phát triển nhanh của ngành.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thắng, Phó Hiệu trưởng, Trưởng khoa Du lịch, Trường đại học Công nghệ Đông Á, cho biết: Trước đây, du khách chỉ đơn thuần tham quan điểm đến kết hợp nghe thuyết minh, thì nay, xu hướng trải nghiệm trực diện tại các “điểm chạm” văn hóa mang màu sắc bản địa ngày càng được ưa chuộng.
Điều này đòi hỏi người làm du lịch không những phải vững về kiến thức chuyên môn, mà còn cần có kỹ năng kể chuyện, có khả năng ứng dụng công nghệ, tư duy sáng tạo và vốn kiến thức liên ngành về công nghiệp văn hóa, du lịch sáng tạo để đáp ứng yêu cầu thực tế của thị trường.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thắng, khi du lịch bước vào giai đoạn cạnh tranh bằng chất lượng, vấn đề của nguồn nhân lực du lịch không phải là thiếu số lượng lao động phổ thông mà là thiếu lao động chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, có thể làm việc ngay trong môi trường chuyên nghiệp.
Để có được đội ngũ nhân lực này, bên cạnh nỗ lực đào tạo của cơ sở giáo dục, còn cần sự đồng hành chặt chẽ của doanh nghiệp, từ xây dựng chương trình, đào tạo thực hành đến kiến tạo môi trường làm việc văn minh, có chế độ đãi ngộ xứng đáng để người lao động yên tâm gắn bó, cống hiến cho nghề.
Ông Cao Trí Dũng, Chủ tịch Liên Chi hội Lữ hành Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh cách mạng 4.0 và chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, nguồn nhân lực du lịch Việt Nam đang được định hình theo hai nhóm chính: Nhóm tiếp cận nền tảng công nghệ, tập trung vào số hóa dữ liệu, sản phẩm, đổi mới phương thức truyền thông, tiếp cận khách hàng…; và nhóm trực tiếp phục vụ khách hàng, tập trung những tương tác trực tiếp, mang lại trải nghiệm chuyên sâu cho du khách.
Dù ở nhóm nào, người lao động cũng cần được trang bị các kỹ năng cốt lõi như công nghệ số, ngoại ngữ, kiến thức chuyên sâu để đáp ứng nhu cầu hội nhập.
Đặc biệt, với nhóm phục vụ trực tiếp, khả năng cá nhân hóa dịch vụ ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng.
Theo ông Dũng, cần đổi mới mô hình đào tạo theo hướng tăng cường năng lực kết nối, đưa sinh viên đến thực tập và làm việc tại doanh nghiệp càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt.
Doanh nghiệp có thể tự đào tạo hoặc liên kết đặt hàng đào tạo riêng, bảo đảm người theo học đáp ứng chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng, thái độ, nhất là về trình độ công nghệ thông tin và ngoại ngữ. Đây là yếu tố then chốt để nguồn nhân lực du lịch không bị tụt hậu trong thời đại hội nhập.
Nhiều chuyên gia nhận định, đã đến lúc ngành du lịch cần có những nghiên cứu, thống kê để đưa ra những dự báo chính xác về nhu cầu nhân lực trong trung và dài hạn, từ đó có chiến lược đào tạo đồng bộ, sát nhu cầu thực tế.
Mới đây, Sở Du lịch Hà Nội tổ chức lớp tập huấn đặc biệt tại bệnh viện dành cho hướng dẫn viên và nhân viên tại các cơ sở lưu trú du lịch, trang bị cho họ kỹ năng sơ cứu cơ bản, cách xử lý tình huống kịp thời, đúng cách để hạn chế rủi ro, giúp bảo đảm an toàn cho du khách trước khi lực lượng y tế chuyên môn có mặt.
Sở còn tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, văn hóa giao tiếp cho nhiều nhóm nhân lực khác như lái xe xích-lô, đầu bếp, cộng đồng cư dân tại các điểm du lịch... để nâng cao chất lượng phục vụ khách.
Thành phố Hồ Chí Minh cũng lên kế hoạch tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng về xúc tiến, tư vấn và hỗ trợ du khách; tập huấn kiến thức du lịch, kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống cho các lực lượng trực tiếp phục vụ du lịch như tài xế ta-xi, nhân viên dịch vụ trên địa bàn thành phố…
Đây là những cách làm cần được nhân rộng, để từng lực lượng tham gia hoạt động du lịch đều trở thành một phần của hệ sinh thái điểm đến an toàn, văn minh, thân thiện.
Đầu tư cho đào tạo nhân lực du lịch, suy cho cùng không chỉ để đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn phát triển ngành, mà còn là giải pháp chiến lược để khẳng định chất lượng, khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới.