Chuyển hóa tiềm năng thành giá trị kinh tế
Nhận thức về vai trò của thị trường công nghiệp văn hóa đánh dấu bước ngoặt với tinh thần đổi mới mạnh mẽ được khẳng định tại Đại hội XIV của Đảng. Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra tầm nhìn mới về văn hóa, Nghị quyết số 28/2026/QH16 thể chế hóa nhanh, trực tiếp và có tính đột phá nhằm phát triển công nghiệp văn hóa quốc gia, phấn đấu để các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045.
Theo đó, để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, Nhà nước xác định hoàn thiện ba chuyển đổi cốt lõi: đưa văn hóa vào khâu đầu tiên của quá trình hoạch định chính sách, lượng hóa được đóng góp của văn hóa bằng những chỉ tiêu kinh tế cụ thể, và thiết lập một hệ sinh thái thị trường minh bạch. Chuyển hóa tiềm năng và di sản thành sức mạnh kinh tế gắn với xác lập cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; hình thành các doanh nghiệp có đủ năng lực thương mại hóa; xây dựng chính sách ươm mầm tài năng; chấp nhận rủi ro trong đổi mới sáng tạo.
Đặc trưng và lợi thế của công nghiệp văn hóa Việt Nam so với các ngành công nghiệp khác là khả năng huy động được toàn dân tham gia vừa sáng tạo, vừa tiêu thụ. Ảnh: BTC VConcert
Nhìn vào bản chất của thị trường đặc thù này, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam, GS. TS. Từ Thị Loan nhận định, trong nền kinh tế ngày càng dựa nhiều hơn vào tri thức, sáng tạo, bản sắc, trải nghiệm và tài sản trí tuệ, thị trường văn hóa là không gian chuyển hóa giá trị thành sản phẩm, dịch vụ, việc làm, thu nhập, uy tín quốc gia và quyền thụ hưởng văn hóa của người dân.
Những năm qua, thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam có bước phát triển đáng ghi nhận. Sự mở rộng của internet, thiết bị thông minh, thương mại điện tử và nền tảng số giúp tác giả, nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nghiệp sáng tạo tiếp cận công chúng trực tiếp hơn. Chúng ta cũng có nhiều cơ hội đưa âm nhạc, điện ảnh, xuất bản, thiết kế, thời trang, trò chơi điện tử, di sản… ra thị trường quốc tế.
Dù ghi nhận bước tiến dài, thị trường vẫn cần cuộc “đại phẫu” về mặt thể chế và hệ thống chính sách hỗ trợ. Thực tế cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp còn thiếu “cánh chim đầu đàn”. Sự thiếu vắng thiết chế văn hóa mang tầm vóc quốc tế, khó khăn trong tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi và rào cản hành chính đang làm nản lòng nhà đầu tư tiềm năng. Tình trạng thương mại hóa hoặc khai thác quá mức di sản vẫn xảy ra.
Hạ tầng dữ liệu văn hóa còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế bảo vệ bản quyền trong khi năng lực phân phối sản phẩm trên nền tảng số còn mờ nhạt. Trong khi đó, các nền tảng xuyên biên giới ngày càng chi phối thị hiếu, dễ dàng khuếch đại thông tin xấu, độc, từ đó làm gia tăng nguy cơ phụ thuộc về công nghệ, dữ liệu và nội dung văn hóa…
Lành mạnh, an toàn, nhân văn
Việc xây dựng thị trường công nghiệp văn hóa an toàn, lành mạnh và nhân văn không nhằm thu hẹp tự do sáng tạo hay hành chính hóa thị trường. Mục tiêu là thiết lập trật tự phát triển, trong đó quyền sáng tạo, quyền kinh doanh và quyền thụ hưởng văn hóa được bảo vệ bằng pháp luật, cạnh tranh dựa trên chất lượng và sự minh bạch, công nghệ được quản trị có trách nhiệm, các nhóm dễ bị tổn thương được bảo vệ hiệu quả.
Theo GS. TS. Từ Thị Loan, để đạt mục tiêu này, cần phối hợp đồng bộ, liên cấp, liên ngành. Thị trường bền vững không chỉ được đánh giá bằng quy mô doanh thu, số lượng doanh nghiệp, sản phẩm hay mức độ lan tỏa trên các nền tảng số, mà trước hết phải xem xét qua chất lượng môi trường sáng tạo, lưu thông và thụ hưởng văn hóa.
Thị trường công nghiệp văn hóa bền vững trước hết phải được xem xét qua chất lượng của môi trường sáng tạo, lưu thông và thụ hưởng văn hóa. Ảnh: Chợ phiên sáng tạo tại Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2026.
Đặc trưng và lợi thế của công nghiệp văn hóa Việt Nam so với các ngành công nghiệp khác là khả năng huy động được toàn dân tham gia, vừa sáng tạo, vừa tiêu thụ. Điều này có thể được nhận diện qua ba nhóm tiêu chí gắn kết hữu cơ với nhau: an toàn, lành mạnh và nhân văn.
GS. TS. Từ Thị Loan phân tích, tính an toàn thể hiện ở khả năng phòng ngừa, giảm thiểu và xử lý hiệu quả các rủi ro đối với người sáng tạo, doanh nghiệp, người tiêu dùng và cộng đồng. Đó là sự bảo đảm quyền tác giả, quyền liên quan, quyền nhân thân, dữ liệu cá nhân và tài sản số; an toàn trong giao dịch, thanh toán, quảng cáo và tiêu dùng sản phẩm văn hóa…
Tính lành mạnh được biểu hiện ở một môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch và tuân thủ pháp luật. Một thị trường lành mạnh phải tạo điều kiện tiếp cận công bằng cho các chủ thể sáng tạo, nhất là nghệ sĩ độc lập, nghệ nhân, doanh nghiệp nhỏ và các cộng đồng địa phương.
Đặc biệt, tính nhân văn là tiêu chí định hướng cao nhất. Thị trường văn hóa phải lấy con người làm trung tâm, tôn trọng phẩm giá, đa dạng văn hóa, tự do sáng tạo và quyền thụ hưởng văn hóa của mọi người.
GS. TS. Từ Thị Loan cho rằng, ba nhóm tiêu chí trên là nền tảng để xây dựng các chỉ số giám sát và định hướng chính sách phát triển thị trường văn hóa trong giai đoạn mới.
Bên cạnh đó, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý từng lĩnh vực sang quản trị hệ sinh thái thị trường văn hóa, kết hợp hài hòa giữa phát triển và bảo vệ, giữa tự do sáng tạo và trách nhiệm xã hội, giữa tiền kiểm cần thiết với hậu kiểm hiệu quả. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật, kiến tạo chính sách, phát triển thị trường và định hướng hệ giá trị. Đồng thời, doanh nghiệp, nền tảng số, nghệ sĩ, người sáng tạo và công chúng phải trở thành những chủ thể có trách nhiệm...
“Chỉ trên nền tảng thể chế đồng bộ, an ninh được bảo đảm, sáng tạo được khuyến khích và các giá trị nhân văn được đề cao, thị trường văn hóa Việt Nam mới có thể phát triển bền vững, đóng góp thiết thực cho sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm và sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, GS. TS. Từ Thị Loan nhận định.
Theo báo Đại biểu nhân dân