Khách quốc tế tham quan Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Bảo tàng Hà Nội.
Thực tế cho thấy, thời gian qua, các di tích của Hà Nội như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Đền Ngọc Sơn đã ứng dụng công nghệ 3D mapping để cho ra đời những sản phẩm du lịch độc đáo như Tour đêm Văn Miếu - Quốc Tử Giám "Tinh hoa đạo học", "Ngọc Sơn - Đêm huyền bí", góp phần thu hút khách du lịch đến với Thủ đô. Điều này cho thấy, trong kỷ nguyên số, di sản không còn chỉ tồn tại dưới dạng những công trình bằng đá, gỗ hay gạch cổ kính, mà đang dần được chuyển hóa thành dữ liệu. Những mô hình 3D, bản sao số, không gian thực tế ảo hay các hệ thống dữ liệu di sản đang mở ra một “đời sống thứ hai” cho các giá trị văn hóa. Đây không chỉ là xu hướng công nghệ mà còn là bước chuyển quan trọng trong cách bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị văn hóa trong thời đại mới.
Lâu nay, việc bảo tồn, nhất là các di tích chủ yếu dựa vào phương pháp vật lý, luôn phải đối mặt với nguy cơ mất mát bởi thời gian và sự biến đổi của đời sống xã hội. Giờ đây, công nghệ cho phép con người vượt qua giới hạn đó để bảo lưu nguyên vẹn giá trị di sản. Chương trình số hóa di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 đã tạo ra cú hích lớn về mặt thể chế. Từ đây, hoạt động số hóa di sản văn hóa đã được đẩy mạnh, nổi bật là xây dựng cơ sở dữ liệu số, quét 3D di tích và ứng dụng thực tế ảo (VR/AR)… Một số dự án trọng điểm có thể kể đến như số hóa Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Cố đô Huế; bản đồ di sản số tại các địa phương như Hà Nội, Đồng Nai, Đà Nẵng…
Còn trên môi trường số, nhiều dự án phỏng dựng không gian, kiến trúc cổ hay tái lập hiện vật mang đến trải nghiệm thị giác chân thật cho công chúng. Trong đó có dự án phỏng dựng không gian kiến trúc chùa Diên Hựu thời Lý bằng công nghệ thực tế ảo của nhóm Sen Heritage; phục dựng nguyên bản pho tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt chùa Báo Ân, phỏng dựng tháp lưu ly bằng sứ men trắng thời Lý.
Dẫu thế, theo kiến trúc sư (KTS) Đinh Việt Phương - Giám đốc 3DART, người bền bỉ theo đuổi hành trình ý nghĩa này suốt hơn 20 năm qua, hiện tỉ lệ số hóa di sản còn thấp. Ước tính tỉ lệ di sản tiêu biểu được số hóa bài bản tại Hà Nội mới đạt khoảng 10-15%. Những rào cản lớn nhất trong việc số hóa di sản ở Hà Nội có thể chỉ ra là sự đứt gãy liên kết giữa ba nhà: Nhà nghiên cứu lịch sử, nhà công nghệ và nhà quản lý. KTS Đinh Việt Phương cho rằng, chúng ta đang thiếu một bộ quy chuẩn dữ liệu chung. Việc thiếu chuẩn hóa dữ liệu khiến hệ sinh thái số phát triển manh mún, chưa phát huy được sức mạnh tổng thể.
Theo KTS Đinh Việt Phương, nếu chỉ bảo tồn di sản theo cách truyền thống - trưng bày tĩnh hoặc giới thiệu đơn tuyến sẽ rất khó chạm tới thế hệ trẻ, đồng thời cũng khó tạo ra giá trị kinh tế bền vững. Công nghệ giúp di sản có thêm một “lớp đời sống thứ hai”: Lớp dữ liệu số.
Khi một di tích được số hóa đúng cách, không chỉ hình hài của công trình được lưu giữ, mà còn mở ra khả năng tiếp cận mới trong nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo. Tuy nhiên, theo ông, công nghệ không thể chỉ dừng lại ở hiệu ứng trình diễn. Nếu dữ liệu đầu vào không đủ chính xác, không được chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế, sản phẩm số sẽ chỉ mang tính minh họa truyền thông, chưa thể coi là bảo tồn số thực thụ.
Và thực tiễn cũng cho thấy, không phải mọi dự án số hóa đều có thể tạo được sức sống lâu dài cho di sản. Theo giám tuyển Nguyễn Thế Sơn - giảng viên Trường Khoa học liên ngành và nghệ thuật, ĐH Quốc gia Hà Nội, yếu tố quyết định không nằm ở công nghệ, mà ở cách kể chuyện và chiều sâu nội dung.
Ông Sơn cho rằng, việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực di sản cần được định hướng theo hai hướng chính. Thứ nhất là xây dựng các không gian trưng bày hiện đại, nơi công nghệ được tích hợp để nâng cao trải nghiệm. Thứ hai là khai thác chính những khoảng trống, mất mát của di sản như một nguồn cảm hứng sáng tạo, từ đó tạo ra các hình thức biểu đạt mới. Công nghệ có thể giúp kể lại những câu chuyện mà trước đây chưa từng được truyền tải. Những chi tiết mỹ thuật tưởng như đã mất có thể được “làm sống lại”, những bức tranh tĩnh có thể trở nên sinh động qua các nền tảng số.
Các chuyên gia nói trên đề có chung quan điểm, để di sản thực sự sống, cần thay đổi tư duy từ “lưu giữ” sang “khai thác và phát triển”. Số hóa không chỉ nhằm bảo tồn, mà phải hướng tới tạo ra giá trị mới - cả về văn hóa lẫn kinh tế. Theo đó, 3 mục tiêu cần đạt được đồng thời là: Bảo tồn di sản, thúc đẩy sáng tạo và tạo ra giá trị gia tăng. Muốn vậy, cần xây dựng một hệ sinh thái văn hóa số hoàn chỉnh, trong đó, có sự tham gia của nhà nước, nghệ sĩ, doanh nghiệp và cộng đồng.
Số hóa không chỉ là thay thế truyền thống bằng công nghệ, mà là tìm cho truyền thống một phương thức tồn tại mới trong thời đại số. Khi được tiếp cận đúng cách, di sản không chỉ “được giữ gìn”, mà còn “sống khỏe”, lan tỏa và tiếp tục tạo ra giá trị trong xã hội đương đại.