Lên đầu trang
Aa
Văn hóa
Thứ Hai, 8/12/2025 12:29 (GMT+7)
Số hóa di sản
Điểm mới nổi bật của Nghị định 308 là đẩy mạnh số hóa di sản, thích ứng với yêu cầu của công cuộc chuyển đổi số quốc gia, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong giai đoạn mới.
Số hóa di sản - Ảnh 1.

Chương trình 3D Mapping với chủ đề “Tinh hoa đạo học” tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám. (Ảnh: BTC)

Ngày 28/11/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 308/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hóa (Nghị định 308). Điểm mới nổi bật của Nghị định 308 là đẩy mạnh số hóa di sản, thích ứng với yêu cầu của công cuộc chuyển đổi số quốc gia, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong giai đoạn mới.

Nhận diện những "điểm nghẽn"

Di sản văn hóa lưu giữ qua nhiều thế hệ được ví như những "báu vật tinh thần", là nguồn lực quan trọng đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội. Thời gian qua, dù đã có những nỗ lực đáng ghi nhận, công tác số hóa di sản văn hóa tại Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức, khiến việc bảo tồn và phát huy giá trị chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Ngày 8/10/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2026/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030, mục tiêu số hóa 100% các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, bảo tàng và di sản tư liệu. Tuy nhiên, đến nay, tiến độ triển khai ở một số đơn vị còn chậm, do gặp nhiều rào cản về hạ tầng, công tác quản lý, thống kê, lưu trữ vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hồ sơ giấy tờ truyền thống, nguồn nhân lực và kinh phí.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền, chuyên gia Di sản học (Đại học Quốc gia Hà Nội) chỉ ra rằng: Mỗi địa phương có hàng nghìn di sản, mà để số hóa một di sản cần rất nhiều công sức, tiền của, thời gian. Trong khi kinh phí cho dự án số hóa của các tỉnh ít, mà một dự án có thể kéo dài đến hàng chục năm, dẫn đến dữ liệu di sản bị phân tán, khó tra cứu và chia sẻ. Nhiều tài liệu quý đang đứng trước nguy cơ bị xuống cấp, mai một do lão hóa vật lý hoặc thiên tai. Mặt khác, do thiếu cơ chế quản lý bản quyền dữ liệu số đã dẫn đến tình trạng sao chép trái phép, làm giảm giá trị thương mại của di sản.

Di sản văn hóa lưu giữ qua nhiều thế hệ được ví như những "báu vật tinh thần", là nguồn lực quan trọng đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội. Thời gian qua, dù đã có những nỗ lực đáng ghi nhận, công tác số hóa di sản văn hóa tại Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức, khiến việc bảo tồn và phát huy giá trị chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Ngày 8/10/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2026/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030, mục tiêu số hóa 100% các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, bảo tàng và di sản tư liệu. Tuy nhiên, đến nay, tiến độ triển khai ở một số đơn vị còn chậm, do gặp nhiều rào cản về hạ tầng, công tác quản lý, thống kê, lưu trữ vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hồ sơ giấy tờ truyền thống, nguồn nhân lực và kinh phí.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền, chuyên gia Di sản học (Đại học Quốc gia Hà Nội) chỉ ra rằng: Mỗi địa phương có hàng nghìn di sản, mà để số hóa một di sản cần rất nhiều công sức, tiền của, thời gian. Trong khi kinh phí cho dự án số hóa của các tỉnh ít, mà một dự án có thể kéo dài đến hàng chục năm, dẫn đến dữ liệu di sản bị phân tán, khó tra cứu và chia sẻ. Nhiều tài liệu quý đang đứng trước nguy cơ bị xuống cấp, mai một do lão hóa vật lý hoặc thiên tai. Mặt khác, do thiếu cơ chế quản lý bản quyền dữ liệu số đã dẫn đến tình trạng sao chép trái phép, làm giảm giá trị thương mại của di sản.

Mỗi địa phương có hàng nghìn di sản, mà để số hóa một di sản cần rất nhiều công sức, tiền của, thời gian. Trong khi kinh phí cho dự án số hóa của các tỉnh ít, mà một dự án có thể kéo dài đến hàng chục năm, dẫn đến dữ liệu di sản bị phân tán, khó tra cứu và chia sẻ. Nhiều tài liệu quý đang đứng trước nguy cơ bị xuống cấp, mai một do lão hóa vật lý hoặc thiên tai. Mặt khác, do thiếu cơ chế quản lý bản quyền dữ liệu số đã dẫn đến tình trạng sao chép trái phép, làm giảm giá trị thương mại của di sản.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền, chuyên gia Di sản học (Đại học Quốc gia Hà Nội)

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực hạn chế cả về số lượng cũng như khả năng thích ứng với công nghệ mới cũng là một rào cản lớn. Việt Nam chưa có chuyên ngành đào tạo riêng về “di sản số hóa”, đội ngũ cán bộ chủ yếu là chuyên gia nghiên cứu di sản hoặc quản lý truyền thống, thiếu kỹ năng công nghệ.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Trọng Dương (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) phân tích: “Chúng ta thực hiện số hóa di sản hiện vẫn chỉ là sự kết hợp nhân sự giữa 2 lĩnh vực nghiên cứu và công nghệ. Trong khi đó trên thế giới hiện nay đã có những khoa đào tạo về di sản số đang mở ra rất mạnh. Họ đào tạo con người 2 trong 1, vừa hiểu về văn hóa, vừa biết về công nghệ. Chỉ có cách đào tạo bài bản như vậy thì trong tương lai chúng ta mới có một đội ngũ nhân sự, các nhà nhân văn số phục vụ cho công tác số hóa di sản”.

Thời gian qua, di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám được đánh giá là một điểm sáng về công tác số hóa di sản. Chia sẻ bài học kinh nghiệm của đơn vị mình, bà Nguyễn Liên Hương, Phó Giám đốc Trung tâm hoạt động Văn hóa-Khoa học Văn Miếu-Quốc Tử Giám cho biết: “Chúng tôi nhận ra việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số là cơ hội vàng để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích”.

Cụ thể Văn Miếu-Quốc Tử Giám đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số như: số hóa tài liệu, hiện vật và hệ thống tham quan; xây dựng cơ sở dữ liệu số 3D kết hợp với nghiên cứu văn hóa-lịch sử, số hóa hoa văn cổ trên hiện vật, trên hạng mục kiến trúc để thiết kế sản phẩm lưu niệm đặc trưng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách, nhất là khách quốc tế và giới trẻ...

Tuy nhiên, bà Nguyễn Liên Hương cũng chỉ ra những rào cản lớn cho công tác chuyển đổi số của đơn vị, bên cạnh vấn đề hạ tầng thiếu đồng bộ, tâm lý e ngại, sợ thay đổi của một số cán bộ, nhân viên.

Đồng quan điểm, Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, nguyên Quyền Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam nhấn mạnh, chuyển đổi số trong văn hóa không đơn thuần là “số hóa” hay “đưa lên mạng”, mà là chuyển đổi tư duy bảo tồn, tiếp nhận, tổ chức, phát triển hình thức giao tiếp và biểu đạt mới trên không gian số.

Mở "cánh cửa số" cho di sản Việt Nam

Nghị định 308 được kỳ vọng sẽ tháo gỡ được những nút thắt, mở “cánh cửa số” cho di sản Việt Nam phát huy giá trị trong bối cảnh mới. Theo Nghị định, nội dung chuyển đổi số về di sản văn hóa bao gồm: xây dựng, quản trị, duy trì, vận hành, khai thác các nền tảng số, hệ thống thông tin quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa; xây dựng các bộ tiêu chuẩn dữ liệu số; tạo lập dữ liệu số phục vụ cho công tác truyền thông, quảng bá di sản văn hóa trên môi trường điện tử.

Số hóa di sản - Ảnh 3.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã ra mắt trưng bày tương tác ảo 3D. (Ảnh chụp màn hình)

Nghị định 308 yêu cầu việc số hóa, lưu trữ, khai thác và sử dụng dữ liệu về di sản văn hóa được thực hiện thống nhất từ Trung ương đến địa phương, trên phương thức tôn trọng và có sự hợp tác của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; ưu tiên sử dụng công nghệ mã nguồn mở và phần mềm trong nước.

Điểm mới nổi bật là thay đổi mạnh mẽ về tư duy và phương thức vận hành, theo đó di sản bắt buộc số hóa từ hồ sơ và tài liệu cho đến việc ứng dụng công nghệ số vào bảo tồn và giám định, hướng tới mục tiêu cộng đồng có cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận di sản.

Nghị định cũng ban hành chi tiết những yêu cầu đối với công tác quản trị và vận hành dữ liệu số quốc gia về di sản văn hóa (Điều 88), tạo hành lang pháp lý đồng bộ số hóa di sản và góp phần giải quyết triệt để rủi ro bảo mật, đồng thời bảo đảm tính toàn vẹn, cũng như quyền của chủ sở hữu hoặc quản lý di sản.

Các chuyên gia đánh giá, Nghị định 308 là bước tiến chiến lược, giúp di sản Việt Nam từ bảo tồn thụ động sang phát huy chủ động qua số hóa. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) khẳng định: “chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững”.

Nhằm phát huy hiệu quả của số hóa di sản, Tiến sĩ Bàn Tuấn Năng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) phân tích: Số hóa di sản văn hóa không phải là công việc ngắn hạn. Nó đòi hỏi một chiến lược lâu dài, có sự phối hợp liên ngành. Để đạt được mục tiêu, cần có chiến lược căn cơ và trước mắt cần đi vào giải quyết mấy vấn đề.

Trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa Việt Nam. Đây phải là nền tảng thống nhất, có chuẩn kỹ thuật chung, liên thông giữa các bộ, ngành, địa phương. Mỗi di sản văn hóa cần có “mã định danh số”. Cần có kế hoạch lâu dài về đào tạo đội ngũ nhân lực số trong lĩnh vực văn hóa. Các trường văn hóa, nghệ thuật, bảo tàng cần mở chuyên ngành mới về công nghệ bảo tồn, kỹ thuật số hóa, quản trị dữ liệu văn hóa.

Bên cạnh đó, cũng cần khuyến khích doanh nghiệp công nghệ tham gia như đối tác chiến lược. Ban hành cơ chế khuyến khích xã hội hóa và hợp tác công-tư. Trong lĩnh vực này, Nhà nước giữ vai trò định hướng, xây dựng chuẩn, còn doanh nghiệp có thể đảm nhận phần công nghệ, nền tảng, truyền thông. Nhiều nước đã chứng minh, khi khu vực tư nhân tham gia, tiến trình số hóa sẽ nhanh và bền hơn.

Theo báo Nhân Dân
Cùng chuyên mục
Đồng Tháp thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa
UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Kế hoạch triển khai Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” trên địa bàn tỉnh.
Văn hóa là nhịp cầu bền vững đưa quan hệ Việt Nam - Thái Lan tới tầm cao mới
Chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân, cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam từ ngày 27 đến 29.5.2026, theo lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thái Lan Anutin Charnvirakul và Phu nhân, không chỉ là sự kiện đối ngoại cấp cao có ý nghĩa đặc biệt sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, mà còn là dịp quan trọng để làm sâu sắc hơn nền tảng văn hóa, giao lưu nhân dân và tình hữu nghị bền chặt giữa hai quốc gia láng giềng trong cộng đồng ASEAN.
Lan tỏa bản sắc Việt Nam qua góc nhìn của các nhà sáng tạo nội dung toàn cầu
Ngày 27/5, tại Hà Nội, chương trình hợp tác nâng cao năng lực phát triển hệ sinh thái sáng tạo nội dung số chính thức được công bố, mở ra bước đi chiến lược trong việc quảng bá các giá trị văn hóa bản sắc Việt Nam trên nền tảng số toàn cầu. Tham dự chương trình có Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông.
Tạo dựng hệ sinh thái nhạc kịch - viết nên giấc mơ nhạc kịch Việt Nam
Sự ra đời của CNA Creative Arts không chỉ đánh dấu thêm một đơn vị nghệ thuật xã hội hóa bước vào thị trường biểu diễn, mà còn gợi mở một cách tiếp cận mới với nhạc kịch Việt Nam: không dừng lại ở việc tạo ra những vở diễn đơn lẻ mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo hoàn chỉnh - nơi nghệ sĩ được đào tạo, tác phẩm được sản xuất chuyên nghiệp, công chúng được nuôi dưỡng và văn hóa trở thành động lực phát triển.
Đà Nẵng xây dựng đời sống văn hóa theo hướng thực chất
UBND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành Kế hoạch số 227/KH-UBND thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” năm 2026 nhằm mục đích tạo chuyển biến rõ nét trong xây dựng đời sống văn hóa và nếp sống văn minh, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, hiện đại gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và các phong trào, cuộc vận động trên địa bàn thành phố.
EMC Đã kết nối EMC