Lên đầu trang
Aa
Tin tức và sự kiện
Thứ Bảy, 24/5/2025 00:00 (GMT+7)
Quy định Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 110/2025/NĐ-CP ngày 21/5/2025 quy định Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình.

Theo Nghị định 110/2025/NĐ-CP, Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình là tập hợp thông tin về nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định tại Điều 46 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. 

Thông tin về nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình được thu thập, tạo lập, cập nhật, kết nối, chia sẻ trong quá trình triển khai hoạt động quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở trung ương và địa phương.

Việc thu thập, tạo lập, cập nhật, kết nối, chia sẻ, quản lý, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện thống nhất trên toàn quốc thông qua phần mềm quản lý Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm: 

Phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, xây dựng chính sách về phòng, chống bạo lực gia đình; 

Cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ việc bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình; ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình; xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; 

Rút ngắn thời gian và giảm nguồn lực thực hiện quy trình thu thập, báo cáo thông tin, dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình, kịp thời cung câp thông tin, bằng chứng phục vụ nhu cầu quản lý, nghiên cứu, đánh giá hiệu quá chính sách, nâng cao độ tin cậy của thông tin, dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình;

Đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong việc thu thập, tạo lập, cập nhật, kết nối, chia sẻ, quản lý, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình, cung cấp dịch vụ công trực tuyến về phòng, chống bạo lực gia đình, phục vụ nhu cầu tiếp cận thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

Nội dung thông tin quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình gồm:

1. Thông tin về ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình;

2. Thông tin về thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;

3. Thông tin về hành vi vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình;

4. Thông tin về vụ việc bạo lực gia đình và hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp trong phòng, chống bạo lực gia đình;

5. Thông tin chung về người bị bạo lực gia đình, người có hành vi bạo lực gia đình là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam;

6. Thông tin chung về người bị bạo lực gia đình, người có hành vi bạo lực gia đình là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam;

7. Thông tin chung về người làm công tác phòng, chống bạo lực gia đình, cộng tác viên dân số tham gia công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình ở cộng đồng;

8. Thông tin chung về cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định tại khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 5 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình;

9. Thông tin về các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình, giáo dục người có hành vi bạo lực gia đình;

10. Thông tin về cơ sở trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình, mô hình phòng, chống bạo lực gia đình;

11. Thông tin về đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác phòng, chống bạo lực gia đình;

12. Thông tin về nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình;

13. Thông tin khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong phòng, chống bạo lực gia đình;

14. Thông tin về thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;

15. Thông tin về xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;

16. Thông tin, dữ liệu được hình thành từ quá trình triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định tại Điều 46 của Luật Phòng, chống chống bạo lực gia đình.

Nghị định nêu rõ: Thông tin, dữ liệu nêu trên được cập nhật thường xuyên, liên tục vào Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật. 

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức vận hành phần mềm quản lý Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình phục vụ cho hoạt động thu thập, tạo lập, cập nhật, kết nối, chia sẻ, quản lý, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật.

Cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình; ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình

Nghị định nêu rõ, thông tin về nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình được thu thập, tạo lập, cập nhật, kết nối, chia sẻ trong quá trình triển khai hoạt động quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở trung ương và địa phương. 

Việc thu thập, tạo lập, cập nhật, kết nối, chia sẻ, quản lý, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện thống nhất trên toàn quốc thông qua phần mềm quản lý Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm:  

Phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, xây dựng chính sách về phòng, chống bạo lực gia đình; cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ việc bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình; ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình; xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.

Rút ngắn thời gian và giảm nguồn lực thực hiện quy trình thu thập, báo cáo thông tin, dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình, kịp thời cung cấp thông tin, bằng chứng phục vụ nhu cầu quản lý, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả chính sách, nâng cao độ tin cậy của thông tin, dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình.

Đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong việc thu thập, tạo lập, cập nhật, kết nối, chia sẻ, quản lý, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình, cung cấp dịch vụ công trực tuyến về phòng, chống bạo lực gia đình, phục vụ nhu cầu tiếp cận thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.  

Thông tin trong Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp có giá trị pháp lý được xác định như sau: 

Thông tin trong Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình được cơ quan có thẩm quyền cung cấp dưới dạng thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Thông tin trong Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình được kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, Trung tâm dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin khác của cơ quan nhà nước thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu, Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, Trục liên thông văn bản quốc gia, Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ, cấp tỉnh, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, được thể hiện dưới các hình thức thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Thông tin trong Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình, xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp qua Cổng thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình ở trung ương, địa phương có giá trị nghiên cứu, học tập, tham khảo. 

Nghiêm cấm truy cập trái phép vào hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình, tiết lộ thông tin đời sống riêng tư, bí mật cá nhân

Nghị định nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi truy cập trái phép vào hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình; làm sai lệch thông tin; thay đổi, xóa, hủy dữ liệu trái phép; tiết lộ thông tin đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trái quy định của pháp luật; sao chép thông tin trái phép, cung cấp thông tin sai lệch; cản trở quá trình vận hành ổn định, liên tục, thông suốt của Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi nêu trên tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính, kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Nghi định có hiệu lực thi hành từ 10/7/2025.

Đăng Nguyên
Cùng chuyên mục
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Mở đường cho sáng tạo, khơi thông nguồn lực
Chiều 24.10.2026, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được các đại biểu thảo luận tại tổ. Sự kiện đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình thể chế hóa quan điểm coi văn hóa là nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng mới. Từ dấu mốc này, điều cần quan tâm không chỉ là có thêm một đạo luật, mà là tạo được những cơ chế thực sự giải phóng sức sáng tạo, kết nối thị trường và đưa giá trị văn hóa Việt Nam trở thành năng lực cạnh tranh quốc gia.
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Chuyển nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế
Đại biểu Quốc hội Vũ Minh Đạo nhấn mạnh, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế, đồng thời tạo điều kiện để các giá trị văn hóa Việt Nam được sáng tạo, lan tỏa và tiếp nối.
Thủ tướng: Cần có chính sách ưu tiên, lựa chọn sản phẩm văn hóa có trọng tâm, trọng điểm
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, cần có chính sách ưu tiên, lựa chọn sản phẩm văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, năng lực cạnh tranh, có khả năng phát triển thành thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Thủ tướng: Phát triển những thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt Nam
Chiều 24/10, Quốc hội thảo luận ở tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Chính thức trình Quốc hội dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa
Sáng 24.10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.
EMC Đã kết nối EMC