Quảng Ninh: Đổi mới khoa học, công nghệ, chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa
04/01/2026 | 08:13Thực tiễn chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa tại Quảng Ninh khẳng định: Nếu biết đặt công nghệ vào đúng vị trí, văn hóa không chỉ được bảo tồn tốt hơn, mà còn có thể trở thành động lực tăng trưởng mới, đóng góp vào sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh của địa phương.
Theo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, thực tiễn triển khai của Quảng Ninh trong những năm qua cho thấy, việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đã tạo ra những chuyển biến rõ nét, toàn diện trong lĩnh vực văn hóa, từ bảo tồn và phát huy giá trị di sản, đổi mới sáng tạo và tổ chức hoạt động văn hóa, nghệ thuật, triển lãm đến nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ Nhân dân.
Trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản, 02 di sản thế giới của tỉnh là Vịnh Hạ Long và Khu danh thắng Yên Tử cùng hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn đã từng bước được số hóa tư liệu, dữ liệu, bản đồ và hồ sơ khoa học, phục vụ quản lý, nghiên cứu và quảng bá. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý tài nguyên và môi trường Vịnh Hạ Long gắn với hệ thống giám sát, theo dõi, cảnh báo đã góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch bền vững, chuyển mạnh từ quản lý thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu.

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý tài nguyên và môi trường Vịnh Hạ Long gắn với hệ thống giám sát, theo dõi, cảnh báo đã góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch bền vững.
Trong lĩnh vực trưng bày và triển lãm, khoa học, công nghệ đã góp phần thay đổi căn bản phương thức tổ chức và trải nghiệm của công chúng. Các thiết chế văn hóa trên địa bàn tỉnh từng bước ứng dụng công nghệ trình chiếu số, mô phỏng 3D, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), bản đồ tương tác, thuyết minh đa phương tiện và hệ thống nhận diện thông minh để xây dựng các không gian trưng bày chuyên đề, trưng bày lưu động và triển lãm số. Áp dụng trong trưng bày Triển lãm thành tựu 80 năm Đất nước, Triển lãm thành tựu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh, Triển lãm ngành Than,.. Nhờ đó, hiện vật và tư liệu được tiếp cận bằng hình thức trực quan, sinh động; thông tin được truyền tải sâu hơn; phạm vi lan tỏa mở rộng vượt khỏi giới hạn không gian vật lý; đồng thời tạo cơ hội để người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, tiếp cận văn hóa, lịch sử tỉnh Quảng Ninh bằng những phương thức hiện đại và hấp dẫn hơn.
Một mô hình tiêu biểu cho cách tiếp cận mới trong chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa là Bảo tàng Quảng Ninh. Không chỉ dừng lại ở việc số hóa tư liệu và hiện vật, bảo tàng đã từng bước hình thành không gian trưng bày kết hợp giữa thực và số, triển khai tham quan ảo, thuyết minh tự động đa ngôn ngữ, bản đồ trải nghiệm thông minh, vé điện tử và các ứng dụng tương tác.
Qua đó, bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ ký ức, mà trở thành không gian giáo dục, trải nghiệm và truyền cảm hứng văn hóa, đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Ngày 12/12, Bảo tàng Quảng Ninh đã chào đón vị khách thứ 1 triệu đến tham quan, doanh thu năm 2025 ước tính gần 30 tỷ đồng. Đây là là minh chứng của mô hình phát triển gắn bảo tồn di sản với công nghệ và công nghiệp văn hóa.

Số hóa không gian văn hóa, học tập tại Bảo tàng Quảng Ninh
Trong lĩnh vực hoạt động văn hóa và nghệ thuật biểu diễn, việc ứng dụng công nghệ số đã làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức, quảng bá và tiếp cận công chúng.
Các sự kiện văn hóa, nghệ thuật quy mô lớn trên 30.000 khán giả/chương trình như 02 concert Quảng Ninh tổ chức thành công vừa qua, tới đây là Chương trình nghệ thuật chào năm mới dự kiến 50.000 khán giả; cùng các chương trình thường niên như Carnaval Hạ Long, Lễ hội Mai vàng Yên Tử, Lễ hội Hokkaido...đã tích hợp các giải pháp số hóa như thiết kế và vận hành sân khấu thông minh, công nghệ trình chiếu 3D mapping, màn hình LED quy mô lớn, hiệu ứng hình ảnh chuyển động theo thời gian thực; xây dựng kịch bản trình diễn đa lớp không gian, kết hợp giữa yếu tố nghệ thuật truyền thống và công nghệ hiện đại, góp phần kể câu chuyện văn hóa vùng Mỏ theo cách tiếp cận mới.
Thông qua số hóa nội dung, ghi hình chất lượng cao, truyền hình trực tiếp và lan tỏa trên mạng xã hội, các chương trình đã thu hút hàng triệu lượt người dân và du khách theo dõi. Qua đó, không gian văn hóa được mở rộng vượt ra ngoài địa điểm tổ chức, tiếp cận hàng triệu người dân và du khách, góp phần quảng bá hình ảnh Quảng Ninh hiện đại, năng động nhưng giàu bản sắc.
Song song với việc đổi mới hoạt động chuyên môn, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa được đẩy mạnh theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch và dựa trên nền tảng số. 100% thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của ngành đã được chuẩn hóa, triển khai trên môi trường điện tử; 100% hồ sơ thủ tục hành chính được tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả thông qua dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, góp phần rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí xã hội và nâng cao mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân.
Trong quá trình triển khai khâu đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Quảng Ninh xác định nhiệm vụ trọng tâm không phải chỉ là ban hành các văn bản hay hoàn thiện quy trình, mà là thiết lập một cơ chế điều hành thống nhất, chủ động và đủ năng lực dẫn dắt quá trình chuyển đổi trong toàn ngành.
Trên tinh thần đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kiện toàn bộ máy, hình thành Ban Chỉ đạo chuyên trách về khoa học - công nghệ - đổi mới sáng tạo - chuyển đổi số; đồng thời tham mưu xây dựng khung chính sách và kế hoạch tổng thể cho giai đoạn 2025-2030. Những định hướng này được thể chế hóa bằng các kế hoạch của UBND tỉnh và kế hoạch triển khai của Sở, tạo nền tảng để ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuyển từ nhận thức sang hành động một cách bài bản, có lộ trình.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu cho UBND tỉnh Quảng Ninh chấp thuận chủ trương xây dựng 04 CSDL ngành trong giai đoạn 2025-2026; trình UBND tỉnh ban hành Kế hoạch ứng dụng IoT trong du lịch đến năm 2030; triển khai 03 nền tảng số dùng riêng của ngành. Thực hiện du lịch thông minh tại Bảo tàng Quảng Ninh; công tác nâng cao nhận thức về chuyển đổi số được quan tâm: qua đó, đã tổ chức Hội nghị tập huấn ứng dụng AI cho toàn thể cán bộ công chức và 05 lớp tập huấn chuyển đổi số trong du lịch với hơn 800 học viên, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp và cơ sở du lịch, thúc đẩy chuyển đổi số thực chất, hiệu quả.
Cùng với đó, ngành đã tập trung xây dựng và vận hành các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, từng bước hình thành nền tảng quản trị dựa trên dữ liệu. Các hệ thống trọng tâm gồm: Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; Nền tảng số quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa; Nền tảng Quản trị và Kinh doanh du lịch được triển khai từ cấp tỉnh đến cấp xã. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống đã phục vụ hiệu quả công tác thống kê, tổng hợp, theo dõi, giám sát và chỉ đạo, điều hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo môi trường thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa còn nhiều thách thức như: hạ tầng chưa đồng bộ, dữ liệu còn phân tán, nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu và các sản phẩm văn hóa số chưa thực sự trở thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao. Điều này đòi hỏi phải có tư duy tiếp cận dài hạn, bài bản và đồng bộ hơn.

Từ thực tiễn đó, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh xác định một số định hướng lớn trong thời gian tới:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, kế hoạch và tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, bảo đảm bám sát tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, các chương trình, kế hoạch của tỉnh và định hướng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và trách nhiệm của người đứng đầu trong triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số.
Hai là, tập trung hoàn thiện, chuẩn hóa và tích hợp hệ thống cơ sở dữ liệu ngành văn hóa; đẩy nhanh tiến độ số hóa di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; hình thành kho dữ liệu quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin, báo chí, xuất bản của tỉnh, bảo đảm kết nối thông suốt với các nền tảng số của tỉnh và quốc gia. Trên cơ sở đó, từng bước xây dựng mô hình Bảo tàng - Thư viện thông minh, không gian triển lãm số, trải nghiệm văn hóa số tại các điểm di sản, điểm du lịch trọng điểm.
Ba là, xây dựng và triển khai Đề án thí điểm hình thành khu, tổ hợp công nghiệp văn hóa, sáng tạo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, gắn với lợi thế về không gian di sản, cảnh quan thiên nhiên, hạ tầng du lịch và các trung tâm đô thị. Đề án tập trung phát triển các lĩnh vực công nghiệp văn hóa có lợi thế của tỉnh như nghệ thuật biểu diễn, lễ hội, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, mỹ thuật, quảng cáo, sản xuất nội dung số; tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, công nghệ trình diễn hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng cao.
Bốn là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành văn hóa gắn với khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; nâng cao kỹ năng số, năng lực quản trị, khai thác dữ liệu cho đội ngũ cán bộ quản lý, viên chức tại các thiết chế văn hóa và lực lượng làm công tác chuyên môn ở cơ sở; tăng cường hợp tác với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ trong đào tạo và chuyển giao ứng dụng khoa học - công nghệ.
Năm là, đẩy mạnh xã hội hóa, mở rộng hợp tác công - tư, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp sáng tạo trong đầu tư, phát triển các sản phẩm văn hóa số, không gian sáng tạo, ứng dụng thông minh phục vụ du lịch, quảng bá văn hóa và con người Quảng Ninh; từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa trên nền tảng số, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và lan tỏa giá trị văn hóa địa phương.
Sáu là, tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của cán bộ, nghệ sĩ, cộng đồng và người dân về vai trò của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa; khuyến khích sự tham gia chủ động của xã hội trong sáng tạo, lan tỏa và bảo tồn các giá trị văn hóa trên môi trường số, góp phần xây dựng xã hội số văn hóa, nhân văn.













