Khó lượng hóa giá trị di sản
Sau hơn một thập niên được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới, Quần thể Danh thắng Tràng An trở thành minh chứng cho khả năng chuyển hóa giá trị di sản thành động lực phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững.
Chia sẻ tại hội thảo khoa học “Kinh tế di sản: Từ lý thuyết đến chính sách và thực tiễn phát triển bền vững” do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 19/5, ông Phạm Sinh Khánh, đại diện Ban Quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An cho biết, Tràng An đã thực sự trở thành “trái tim” của tỉnh Ninh Bình. Từ một vùng đất giàu giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan, nơi đây trở thành điểm đến hấp dẫn, tạo sinh kế cho cộng đồng, phát triển kinh tế - xã hội địa phương, lan tỏa bản sắc.
Tràng An là minh chứng rõ nét cho khả năng chuyển hóa giá trị di sản. Ảnh: SDL Ninh Bình
Thành công này đến từ mô hình hợp tác gồm nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân. Tràng An lựa chọn hướng phát triển dựa trên “hồn cốt văn hóa”, chú trọng diễn giải di sản gắn với cộng đồng, đẩy mạnh giáo dục, truyền thông nâng cao ý thức gìn giữ di sản. Đặc biệt, phát triển du lịch phải quay trở lại bảo tồn, và từ bảo tồn tiếp tục tạo động lực cho du lịch.
Việt Nam hiện có 9 Di sản thế giới được UNESCO ghi danh. Nhìn lại hành trình phát huy giá trị của các di sản, GS. TS. Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia nhận thấy, những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - du lịch ở nhiều địa phương như Tràng An (Ninh Bình), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) hay Quần thể di tích Cố đô Huế... "Hiếm có nguồn lực nào vừa tạo doanh thu lớn, vừa góp phần nâng tầm hình ảnh quốc gia như vậy".
Tuy nhiên, lĩnh vực này cũng đang đối diện không ít thách thức. Theo GS. TS. Lâm Thị Mỹ Dung, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhiều người làm di sản thiếu kiến thức kinh tế, trong khi người làm kinh tế chưa hiểu đầy đủ đặc thù của di sản. Thực tế là không ít di sản khảo cổ dù đã được ghi danh vẫn rơi vào tình trạng “đóng băng”, chưa tìm được hướng khai thác phù hợp. Bên cạnh đó, hiện nay việc đánh giá vẫn thiên về doanh thu du lịch, chưa nhìn nhận đầy đủ tác động ngược của du lịch tới di sản và cộng đồng.
Trong khi đó, TS. Nguyễn Thị Vĩnh Hà, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội nêu thực tế, lâu nay di sản văn hóa vẫn được coi là “vô giá”, một mặt bởi nó rất quý giá, mặt khác, do không có sự mua - bán nên thiếu dữ liệu về giá trị di sản. Chính vì không thể định lượng được giá trị nên thiếu căn cứ, cơ sở để hoạch định chính sách, đầu tư cho bảo tồn và phát triển…
PGS. TS. Phạm Hồng Long, Khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nhìn nhận, áp lực du lịch đang tác động đến nhiều di sản, và cộng đồng sở hữu. Ở một số địa phương, bản sắc bị biến thành sự trình diễn phục vụ du lịch; tình trạng “thượng lưu hóa” cũng xuất hiện khi nhà đầu tư bên ngoài mua, thuê nhà, khai thác kinh doanh, trong khi cộng đồng bản địa chỉ đóng vai trò lao động dịch vụ.
Phát triển kinh tế di sản bằng tư duy mới
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam định hướng: nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa; lấy di sản văn hóa là trung tâm; đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa lồng ghép vào mục tiêu phát triển bền vững về môi trường, văn hóa, kinh tế, xã hội gắn với sinh kế cộng đồng, hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản…
GS. TS. Nguyễn Quang Ngọc cho rằng, Việt Nam đang sở hữu kho tàng di sản phong phú, nhưng nếu không tìm được cách “đánh thức”, những giá trị ấy có thể mãi là “kho báu ngủ quên”. Kinh tế di sản vì thế trở thành yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.
Phát triển kinh tế di sản trở thành yêu cầu của giai đoạn phát triển mới
PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội phân tích, khai thác di sản có thể chỉ nhằm mục tiêu tăng doanh thu, nhưng phát triển kinh tế di sản phải hướng tới gia tăng giá trị tổng hợp, gồm giá trị văn hóa, xã hội, giáo dục, môi trường, kinh tế và giá trị con người. Điều quan trọng nhất hiện nay là thay đổi cách tiếp cận: chuyển từ quản lý di sản như một “đối tượng hành chính” sang quản trị di sản như một “hệ sinh thái phát triển”.
Theo PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, đánh thức di sản là làm cho giá trị cốt lõi của di sản được nhận diện sâu hơn, được truyền thông hay hơn, được giáo dục tốt hơn, được cộng đồng tham gia nhiều hơn và được công nghệ hỗ trợ hiệu quả hơn, cũng như kết nối với chuỗi giá trị sáng tạo một cách tinh tế hơn.
Bên cạnh đó, kết nối di sản với công nghiệp sáng tạo được xem là hướng đi quan trọng. Những hoa văn truyền thống có thể bước vào thiết kế đương đại; câu chuyện dân gian có thể trở thành phim hoạt hình, trò chơi số hay sản phẩm giáo dục; các không gian làng cổ có thể trở thành nơi trải nghiệm văn hóa và sáng tạo nghệ thuật. Tuy nhiên, sáng tạo phải dựa trên nền tảng hiểu biết và tôn trọng di sản.
Một giải pháp khác là thúc đẩy chuyển đổi số. Theo các chuyên gia, việc số hóa không chỉ giúp lưu trữ và bảo tồn tốt hơn mà còn mở ra cơ hội đưa di sản đến gần công chúng trẻ thông qua giáo dục, điện ảnh, bảo tàng số hay công nghiệp nội dung. Song song với đó, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kinh tế di sản theo hướng đa chiều, không chỉ dựa vào lượng khách hay doanh thu từ vé tham quan.
Nhận định “nếu phát triển du lịch nóng, chúng ta có thể thổi một nồi cơm nhưng lại làm cháy một ngôi nhà”, PGS. TS. Phạm Hồng Long cho rằng, cần có giải pháp cụ thể phát triển du lịch gắn với di sản bền vững, đặc biệt có sự chia sẻ lợi ích...
Nếu phát triển kinh tế di sản bằng sự hiểu biết, trách nhiệm và sáng tạo, những giá trị văn hóa sẽ không chỉ được gìn giữ, mà còn tiếp tục tạo ra sức sống mới cho cộng đồng, cho địa phương và cho hành trình phát triển của đất nước.