Lên đầu trang
Aa
Văn hóa
Thứ Tư, 16/9/2026 11:19 (GMT+7)
Phát huy giá trị nghệ thuật cải lương Nam - Bắc trong xã hội đương đại
Ra đời ở Nam Bộ, nghệ thuật cải lương đã vượt qua không gian địa lý để trở thành một bộ phận quan trọng của sân khấu Việt Nam.

Hơn một thế kỷ phát triển đã tạo nên cải lương Nam và cải lương Bắc với những sắc thái riêng về âm nhạc, ca diễn, kịch bản và dàn dựng. Nhưng phía sau những khác biệt ấy vẫn là một dòng chảy nghệ thuật thống nhất, cùng hướng tới việc kể những câu chuyện về con người bằng âm nhạc, sân khấu và cảm xúc.

Trong bối cảnh Nghị quyết 80-NQ/TW đặt yêu cầu bảo tồn phải gắn với phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển công nghiệp văn hóa, sự giao thoa Nam - Bắc có thể trở thành một nguồn lực quan trọng để cải lương tìm lại sức sống trong đời sống đương đại.

Một dòng chảy, nhiều sắc thái

Cảnh trong vở diễn lịch sử “Đế đô sóng cả” của Đoàn Nghệ thuật Cải lương Vàm Cỏ. Ảnh: TTXVN phát

Cải lương là một trong những loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống của người Việt, có vị trí trong đời sống văn hóa, tinh thần và thẩm mỹ của nhiều thế hệ. Hơn 100 năm hình thành và phát triển đã để lại nhiều tác phẩm, nghệ sĩ và giá trị nghệ thuật có sức sống lâu dài. Trong đó, đờn ca tài tử - cội nguồn của âm nhạc cải lương - được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2013. Bởi vậy, bảo tồn và phát huy cải lương cũng chính là một cách gìn giữ và làm giàu thêm những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Theo Tiến sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Lê Tuấn Cường, Phó Giám đốc phụ trách Nhà hát Sân khấu truyền thống quốc gia Việt Nam, cải lương ra đời ở Nam Bộ, sau đó lan rộng ra cả nước và hình thành hai nhánh mang những đặc điểm riêng là cải lương Nam và cải lương Bắc. Trong quá trình phát triển, cải lương hai miền vừa có những đặc điểm chung của thể loại, vừa chịu ảnh hưởng của văn hóa vùng miền, yếu tố lịch sử, chính trị cũng như sự giao lưu, tiếp biến với nước ngoài. Những khác biệt đó thể hiện trên nhiều phương diện như nhạc cụ, âm nhạc, biểu diễn, kịch bản... và cần được nghiên cứu một cách hệ thống để nhận diện, khẳng định những giá trị riêng.

Tiến sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Triệu Trung Kiên, Phó Giám đốc Nhà hát Sân khấu truyền thống quốc gia Việt Nam nhìn nhận sự khác biệt Nam - Bắc trước hết thể hiện rõ trong hoạt động biểu diễn. Nếu tại Hà Nội, khán giả chủ yếu là người dân Thủ đô và các vở diễn phần lớn do những đơn vị cải lương chuyên nghiệp công lập thực hiện, thì tại Thành phố Hồ Chí Minh, bên cạnh các đoàn công lập còn có nhiều đoàn tư nhân, nhóm nghệ sĩ và lực lượng khán giả đa dạng, trong đó có cả người Việt Nam ở nước ngoài.

Ở góc nhìn chuyên gia, nhà nghiên cứu lý luận phê bình sân khấu - Tiến sĩ Cao Ngọc cho rằng cải lương Nam Bộ mang trong mình chất tài tử, sự phóng khoáng, “cái mùi, cái tình”, sự mềm mại và khả năng giao cảm trực tiếp với công chúng. Cải lương Nam gắn với đờn ca tài tử, với giọng nói, lối sống và tâm lý thẩm mỹ của cư dân Nam Bộ. Cái hay nhiều khi nằm ở độ thấm, độ ngọt, sự tự nhiên trong ca diễn và khả năng chạm tới cảm xúc đại chúng.

Trong khi đó, cải lương Bắc hình thành trong một môi trường văn hóa khác, nơi đã có truyền thống chèo, tuồng, dân ca, ca trù, kịch nói và một nền văn học có tính quy phạm khá rõ. Vì vậy, khi tiếp nhận cải lương, nghệ sĩ và công chúng miền Bắc không chỉ tiếp nhận nguyên dạng mà còn điều chỉnh theo thổ âm, thị hiếu và quan niệm thẩm mỹ của mình. Cải lương Bắc thường chú trọng hơn tới kết cấu kịch bản, tính văn học, sự trang nhã, chặt chẽ trong dàn dựng và diễn xuất.

Theo nhà nghiên cứu Cao Ngọc, không nên nhìn nhận những khác biệt đó như một sự chia tách, mà cần xem đây là biểu hiện sinh động của tính đa dạng vùng miền trong cùng một chỉnh thể, có thể bổ sung cho nhau để làm phong phú hơn diện mạo sân khấu cải lương Việt Nam.

Tiến sĩ, Nghệ sĩ Ưu tú Lê Nguyên Đạt, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng thành tựu lớn của cải lương Nam - Bắc là chứng minh sức sống của một loại hình sân khấu có khả năng thích ứng cao. Theo đó, cải lương Bắc đóng góp vào tiến trình hiện đại hóa bằng việc nâng cao ý thức đạo diễn, khả năng phân tích nhân vật, kỷ luật dàn dựng, diễn xuất nội tâm và tính tư tưởng của vở diễn. Cải lương Nam đóng góp bằng kỹ thuật ca diễn, sức hấp dẫn của vọng cổ, chất trữ tình Nam Bộ, sự linh hoạt của sân khấu thị trường và khả năng duy trì quan hệ tình cảm bền chặt với khán giả. Hai dòng này là hai nguồn kinh nghiệm quý cho sân khấu dân tộc.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, nhiều dự án, tác phẩm có sự tham gia của nghệ sĩ hai miền đã tạo dấu ấn nghề nghiệp và hiệu ứng tích cực với công chúng, như “Thầy Ba Đợi”, “Chuyện tình Khâu Vai” của đạo diễn Triệu Trung Kiên; “Vương quyền”, “Vương đạo”, “Cõi tình”, “Trần Quốc Toản” của đạo diễn Lê Nguyên Đạt. Những tác phẩm này cho thấy khi nghệ sĩ hai miền cùng tham gia trong một cấu trúc dàn dựng nghiêm túc, khác biệt về hơi ca, đài từ, tiết tấu diễn xuất và cảm thức thẩm mỹ không tạo ra khoảng cách, mà trở thành chất liệu bổ sung cho nhau.

Nghệ sĩ Ưu tú Lê Nguyên Đạt chỉ ra hạn chế của cải lương Bắc là nguy cơ đánh mất “chất cải lương” khi quá gần kịch nói. Những vở quá nặng lời thoại, quá nhấn vào xung đột bên ngoài hoặc để âm nhạc chỉ làm nền minh họa sẽ làm giảm bản chất của một loại hình kịch hát. Ở chiều ngược lại, cải lương Nam có lúc quá tin vào sức hút của giọng ca và thói quen thưởng thức cũ. Khi lớp ca không phục vụ hành động, vai diễn bị thay bằng màn phô diễn kỹ thuật, kịch bản không đủ sức nén, vở diễn dễ trở nên dài, lỏng và thiếu sức khái quát.

Từ di sản đến sức mạnh mềm

Thông qua những trải nghiệm thực tế, nghệ thuật cải lương đang có những cơ hội mới để tỏa sáng. Ảnh: Minh Ngọc/Báo Tin tức và Dân tộc

Tiến sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Triệu Trung Kiên phân tích có ba nguồn lực chính tạo nên “sức mạnh mềm” của một quốc gia, đó là nền văn hóa, hệ giá trị và hệ thống chính sách. Với bề dày hàng nghìn năm và bản sắc riêng biệt, văn hóa Việt Nam là nguồn lực quan trọng để quảng bá hình ảnh đất nước. Trong đó, nghệ thuật biểu diễn nói chung và cải lương nói riêng có khả năng giúp thế giới cảm nhận những giá trị văn hóa bền vững của Việt Nam.

Đặt trong tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW, bảo tồn cải lương vì thế không thể chỉ dừng ở việc giữ lại những vở diễn cũ hay lưu giữ ký ức của một thời sân khấu. Nghị quyết xác định văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững; đồng thời đặt ra yêu cầu xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, truyền thống và hiện đại, đời sống thực và không gian số. Với cải lương, điều đó có nghĩa là đưa nghệ thuật đến gần hơn với trường học, không gian du lịch, nền tảng số; khuyến khích sáng tạo tác phẩm mới; số hóa tư liệu; đào tạo nghệ sĩ trẻ và tạo điều kiện để các nhà hát, nghệ sĩ tiếp cận nguồn lực xã hội. Đây không phải những việc nằm ngoài bảo tồn, mà chính là những cách thức để bảo tồn trong điều kiện mới.

Nghệ sĩ Nhân dân Triệu Trung Kiên cho rằng cải lương Nam - Bắc đang đứng trước những thách thức và cơ hội chưa từng có. Mạng xã hội, phim ảnh trực tuyến, nhạc trẻ, trò chơi điện tử... chiếm phần lớn quỹ thời gian của công chúng, khiến sân khấu truyền thống phải cạnh tranh gay gắt để giữ khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ.

Ở phương Nam, cải lương vẫn có một thị trường năng động với nhiều sân khấu xã hội hóa và nhóm tài tử. Tuy nhiên, áp lực kinh tế khiến các đoàn hát khó duy trì hoạt động thường xuyên; thiếu rạp hát chuyên dụng và khan hiếm kịch bản có chất lượng, mang hơi thở thời đại cũng là những trở ngại đáng kể. Vì vậy, cải lương Nam đang phải mở rộng phương thức tiếp cận, từ sân khấu trực tiếp sang YouTube, TikTok, gameshow truyền hình và những không gian văn hóa khác.

Trong khi đó, cải lương Bắc chịu tác động lớn từ sự thay đổi của hệ thống quản lý và thị hiếu công chúng. Hoạt động biểu diễn còn chủ yếu dựa vào các đơn đặt hàng chính luận, phục vụ nhiệm vụ chính trị, chưa bắt nhịp thật nhạy bén với cơ chế thị trường để tăng khả năng tự chủ tài chính và tiếp cận sâu rộng hơn với đời sống.

Nhà nghiên cứu lý luận sân khấu Cao Ngọc chia sẻ vấn đề của cải lương hiện nay không chỉ là bảo tồn hay đổi mới theo nghĩa thông thường, mà là tái cấu trúc phương thức tồn tại của cải lương trong đời sống đương đại. Cần bảo tồn đặc trưng Nam - Bắc nhưng không đóng khung trong hoài niệm; khuyến khích thử nghiệm liên loại hình nhưng không làm mất căn tính; có kịch bản mới, đề tài mới, phương thức biểu diễn mới nhưng phải xuất phát từ đặc trưng của cải lương, không vay mượn hời hợt từ bên ngoài.

Theo đó, cải lương cần một chiến lược đồng bộ hơn: phát triển khán giả trẻ qua trường học và truyền thông số; số hóa tư liệu, trích đoạn, làn điệu, chân dung nghệ sĩ; xây dựng chương trình biểu diễn thường xuyên; có cơ chế đặt hàng tác phẩm và lưu diễn dài hạn; tổng kết những mô hình kết hợp đã có để tìm ra phương pháp sáng tạo phù hợp. Giao lưu Nam - Bắc cũng cần chuyển từ giao lưu nghề nghiệp sang tạo lập những giá trị thẩm mỹ mới, những tác phẩm có đời sống xã hội thực sự.

Đạo diễn Thanh Hiệp, Trưởng Ban Lý luận phê bình Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và thị trường văn hóa biến đổi nhanh, cải lương Nam - Bắc cùng đối diện với nhiều khó khăn: thiếu khán giả trẻ, thiếu lực lượng kế cận, thiếu không gian biểu diễn ổn định; cơ chế đầu tư, đặt hàng và đánh giá hiệu quả còn bất cập; nguồn lực xã hội hóa chưa được khơi thông; hoạt động số hóa và bảo vệ bản quyền chưa theo kịp thực tiễn.

Theo đạo diễn Thanh Hiệp, cải lương cần một hệ thống chính sách đủ mạnh, chuyển từ tư duy “bao cấp để tồn tại” sang “kiến tạo để phát triển”; từ “giữ gìn di sản” sang “làm giàu di sản”; từ quản lý từng đơn vị riêng lẻ sang quản trị một hệ sinh thái sáng tạo. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài để cải lương tiếp tục sản sinh tác phẩm mới, tài năng mới, công chúng mới và giá trị mới trong kỷ nguyên số. Theo đó, cải lương cần được nhìn nhận đồng thời là di sản phải bảo vệ, nghệ thuật đương đại phải tiếp tục sáng tạo và nguồn lực công nghiệp văn hóa có thể tạo ra giá trị xã hội, kinh tế, giáo dục cùng sức mạnh mềm.

Về lâu dài, đạo diễn Thanh Hiệp đề xuất xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển nghệ thuật Cải lương đến năm 2045, gắn bảo tồn di sản với sáng tạo, giáo dục, chuyển đổi số, du lịch và công nghiệp văn hóa; hình thành Trung tâm Dữ liệu số cải lương Việt Nam; tăng cường đào tạo thế hệ kế cận, đưa cải lương vào trường học và xây dựng cơ chế khuyến khích xã hội hóa... Mục tiêu cuối cùng không chỉ là bảo tồn, mà phải đưa cải lương trở thành một biểu tượng bản sắc Việt Nam và một thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa quốc gia trong kỷ nguyên số.

Theo TTXVN
Cùng chuyên mục
Bắc Ninh - Hội tụ truyền thống, kiến tạo tương lai
Chào mừng thành lập thành phố Bắc Ninh, ngày 16/9, Thư viện Bắc Ninh tổ chức trưng bày tư liệu "Bắc Ninh - Hội tụ truyền thống, kiến tạo tương lai", giới thiệu những giá trị lịch sử, văn hóa và thành tựu phát triển của vùng đất Kinh Bắc qua các thời kỳ.
Trải nghiệm Tết Trung thu truyền thống qua những sắc màu di sản
Trong hai ngày 19-20/9/2026, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam sẽ tổ chức chương trình Tết Trung thu với chủ đề “Trung thu 2026: Sắc màu di sản văn hóa”.
Khai mạc Hội thi Nghệ thuật quần chúng tỉnh Khánh Hòa năm 2026
Tối 15.9, tại Quảng trường 2/4 (phường Nha Trang), Sở VHTTDL tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức khai mạc Hội thi Nghệ thuật quần chúng tỉnh Khánh Hòa năm 2026 với chủ đề “Khánh Hòa - Khát vọng phát triển”.
Bộ nhận diện Di sản Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc sẽ công bố tại Lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc
Lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc - mùa Thu năm 2026 có nhiều điểm nhấn ấn tượng, khẳng định thương hiệu di sản của thành phố Cảng. Đặc biệt tại Lễ hội này sẽ công bố Bộ nhận diện thương hiệu Di sản thế giới Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc tạo hình ảnh chung cho quần thể di sản liên vùng.
Hà Nội: Đánh thức ký ức, kiến tạo hành trình di sản
Tại nhiều di tích và không gian văn hóa của Hà Nội, Tết Trung thu truyền thống đang được tái hiện qua các hoạt động trưng bày, trải nghiệm, phục dựng và thực hành di sản.
EMC Đã kết nối EMC