Từ bảo tồn, phát huy giá trị đến khai thác tiềm năng kinh tế
Phát biểu tại phiên thảo luận ở Tổ của Quốc hội về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đánh giá quy định về sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm là một trong những chính sách rất quan trọng của dự thảo Luật.
“Chính sách này thể hiện sự chuyển biến trong tư duy phát triển công nghiệp văn hóa, từ chú trọng bảo tồn các giá trị văn hóa sang kết hợp hài hòa giữa bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa với khai thác tiềm năng kinh tế, đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước. Đây là một quan điểm, tư duy rất mới trong dự thảo Luật”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng phát biểu tại phiên thảo luận ở Tổ của Quốc hội về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Ảnh: TRẦN HUẤN
Có thể thấy, Thủ tướng đã chỉ ra điểm cốt lõi trong định hướng xây dựng dự án Luật: văn hóa không chỉ là đối tượng cần được gìn giữ, bảo vệ mà còn là nguồn lực có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, việc làm, sản phẩm sáng tạo và sức cạnh tranh quốc gia.
Bảo tồn và phát triển kinh tế không phải hai mục tiêu đối lập, mà cần được đặt trong mối quan hệ tương hỗ, để giá trị văn hóa được phát huy rộng rãi hơn, đồng thời tạo thêm nguồn lực cho sự phát triển bền vững.
Trong thời gian dài, các chính sách quản lý văn hóa chủ yếu tập trung vào bảo vệ di sản, gìn giữ bản sắc, phát triển hoạt động nghệ thuật và bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa của người dân. Đây là những nhiệm vụ nền tảng, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì sức sống của văn hóa dân tộc.
Tuy nhiên, khi công nghiệp văn hóa được xác định là một lĩnh vực kinh tế có tiềm năng, yêu cầu đặt ra không dừng ở việc bảo vệ những giá trị sẵn có, mà còn phải tạo điều kiện để các giá trị ấy được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng tiếp cận thị trường và tạo ra giá trị gia tăng.
Sự chuyển biến trong tư duy vì thế không có nghĩa là giảm nhẹ yêu cầu bảo tồn, càng không phải thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá. Cốt lõi là tìm được phương thức kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hóa và giá trị kinh tế; giữa gìn giữ bản sắc với đổi mới sáng tạo; giữa trách nhiệm bảo vệ di sản với yêu cầu khai thác tiềm năng để tạo ra nguồn lực phát triển.
Khi công nghiệp văn hóa được xác định là một lĩnh vực kinh tế có tiềm năng, yêu cầu đặt ra không dừng ở việc bảo vệ những giá trị sẵn có, mà còn phải tạo điều kiện để các giá trị ấy được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng tiếp cận thị trường. Ảnh: TRẦN HUẤN
Một di sản, một tác phẩm nghệ thuật hay một câu chuyện văn hóa có thể mang giá trị lịch sử, tinh thần và thẩm mỹ, nhưng tiềm năng của chúng không nhất thiết dừng lại ở hình thức ban đầu.
Khi được đầu tư nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu và tổ chức khai thác phù hợp, những giá trị đó có thể tiếp tục phát triển thành nhiều sản phẩm, dịch vụ khác nhau, tiếp cận những nhóm công chúng mới và mở rộng thị trường.
Đây cũng chính là điều Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh khi phân tích khả năng phát triển sản phẩm phái sinh, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, mở rộng thị trường và hình thành những chuỗi giá trị mới. Một sản phẩm điện ảnh, hoạt hình hay trò chơi điện tử có thể được khai thác trên nhiều nền tảng, tại nhiều thị trường, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa sang du lịch, thương mại, dịch vụ và công nghệ số.
Như vậy, giá trị của sản phẩm công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở quá trình sáng tạo ban đầu hay doanh thu từ lần khai thác đầu tiên, mà còn ở khả năng tiếp tục phát triển, tái đầu tư và tạo ra các giá trị mới.
Từ một tác phẩm có thể hình thành hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ; từ một tài sản trí tuệ có thể mở ra nhiều cơ hội kinh doanh; từ một giá trị văn hóa đặc sắc có thể phát triển thành thương hiệu mang bản sắc Việt Nam.
Để hiện thực hóa tư duy đó, Thủ tướng đề nghị cần có chính sách ưu tiên, lựa chọn những sản phẩm văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, có năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển thành thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Điều này đặt ra yêu cầu xây dựng chính sách không dàn trải, mà phải hướng nguồn lực vào những lĩnh vực, sản phẩm có tiềm năng tạo giá trị, đồng thời bảo đảm gìn giữ bản sắc và các giá trị văn hóa cốt lõi.
Cần có chính sách ưu tiên, lựa chọn những sản phẩm văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, có năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển thành thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt Nam. Ảnh: TUẤN MINH
Những định hướng này không chỉ dừng ở quan điểm mà đã được Bộ VHTTDL – cơ quan chủ trì soạn thảo cụ thể hóa trong cấu trúc và các nhóm chính sách của dự án Luật.
Theo đó, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng trên cơ sở tiếp cận công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị, coi đây là một ngành kinh tế chiến lược; đồng thời tập trung xử lý những khoảng trống pháp lý, điểm nghẽn trong tổ chức thực thi và xác lập các cơ chế, chính sách then chốt để thúc đẩy phát triển lĩnh vực này.
Dự thảo cũng hướng tới hạn chế phát sinh thủ tục hành chính mới, tăng cường phân cấp và hậu kiểm.
Trong quá trình xây dựng dự án Luật, Bộ VHTTDL không lựa chọn cách tiếp cận đơn thuần là tập hợp, hệ thống hóa các quy định hiện hành. Thay vào đó, cơ quan chủ trì soạn thảo hướng đến thiết lập một khung pháp lý có tính kiến tạo, kết nối các khâu từ sáng tạo, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, huy động nguồn lực, sản xuất, phân phối, thương mại hóa đến tái đầu tư.
Cách tiếp cận này cho thấy nỗ lực chuyển hóa quan điểm phát triển mới thành những cơ chế cụ thể, khắc phục tình trạng các chính sách còn phân tán theo từng lĩnh vực, thiếu sự kết nối giữa hoạt động sáng tạo và khai thác giá trị kinh tế.
Dự thảo Luật hướng tới kết nối toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, đồng thời đề xuất các cơ chế mới về thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình kinh doanh, công nghệ mới và khai thác tài sản trí tuệ.
Việc xây dựng dự án Luật theo hướng đó đòi hỏi phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề: vừa tạo điều kiện cho các chủ thể sáng tạo phát triển, vừa bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ; vừa khuyến khích đầu tư, kinh doanh, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa; vừa mở rộng không gian thị trường, vừa bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.
Trong điều kiện thời gian xây dựng luật được rút ngắn, Bộ VHTTDL đã khẩn trương tổ chức nghiên cứu, xây dựng chính sách, lấy ý kiến chuyên gia, doanh nghiệp và các đối tượng chịu tác động; đồng thời phối hợp với các cơ quan của Quốc hội để rà soát, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo.
Việc này có ý nghĩa quan trọng bởi chất lượng của một đạo luật không chỉ được đánh giá qua việc xác định đúng quan điểm phát triển, mà còn ở khả năng chuyển hóa quan điểm đó thành những quy định rõ ràng, khả thi và có thể triển khai trong thực tiễn.
Có thể nói, điểm mới cốt lõi của dự án Luật không chỉ nằm ở việc bổ sung các chính sách hỗ trợ một số ngành, lĩnh vực cụ thể, mà ở sự thay đổi cách tiếp cận đối với toàn bộ hoạt động công nghiệp văn hóa.
Từ chỗ chủ yếu quản lý, bảo tồn các giá trị văn hóa, chính sách hướng tới kiến tạo môi trường để các giá trị ấy được sáng tạo, phát triển, lưu thông và tiếp tục sinh ra giá trị mới. Đây chính là bước chuyển quan trọng để văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn trở thành nguồn lực phát triển kinh tế.
Khơi thông nguồn lực, mở đường cho công nghiệp văn hóa phát triển
Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đã hình thành khung khổ pháp lý chung cho một lĩnh vực có tính liên ngành cao, nơi hoạt động sáng tạo gắn chặt với công nghệ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thị trường và tiêu dùng.
Khi những khâu này được kết nối bằng các cơ chế phù hợp, cơ hội phát triển sẽ không chỉ dành cho các tổ chức văn hóa truyền thống mà còn mở rộng tới doanh nghiệp sáng tạo, đội ngũ nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà sản xuất nội dung số và các chủ thể tham gia thị trường.
Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đã hình thành khung khổ pháp lý chung cho một lĩnh vực có tính liên ngành cao. Ảnh: XUÂN TRƯỜNG
Thực tế, một trong những khó khăn của công nghiệp văn hóa là khoảng cách giữa năng lực sáng tạo và khả năng thương mại hóa sản phẩm. Nhiều ý tưởng có giá trị nhưng thiếu vốn đầu tư, thiếu cơ chế bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ, hoặc chưa tìm được phương thức tiếp cận thị trường hiệu quả.
Nếu chỉ hỗ trợ hoạt động sáng tạo mà chưa quan tâm đầy đủ đến các khâu sản xuất, phân phối, quảng bá và tái đầu tư, giá trị kinh tế tạo ra sẽ khó tương xứng với tiềm năng.
Bởi vậy, cách tiếp cận theo chuỗi giá trị trong dự thảo Luật có ý nghĩa thiết thực. Khi các khâu của quá trình phát triển sản phẩm được đặt trong một hệ thống liên kết, chính sách có thể tác động đồng bộ hơn, từ hỗ trợ hình thành ý tưởng, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ tài sản trí tuệ đến huy động vốn và mở rộng thị trường.
Đây cũng là cơ sở để giảm tình trạng đứt gãy giữa sáng tạo và kinh doanh, nâng cao khả năng giữ lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp và người sáng tạo trong nước.
Một tác động đáng chú ý khác là mở rộng khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa. Khi sản phẩm văn hóa có cơ hội tiếp cận thị trường, quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ và khai thác hiệu quả hơn, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để đầu tư dài hạn, còn người sáng tạo có thêm động lực phát triển sản phẩm.
Vai trò của Nhà nước vì thế không chỉ là đầu tư trực tiếp hay quản lý hoạt động văn hóa, mà còn là kiến tạo môi trường pháp lý, hoàn thiện cơ chế và tạo điều kiện để các nguồn lực công, tư cùng tham gia.
Đặc biệt, việc phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm có thể tạo hiệu ứng lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi từng ngành. Như Thủ tướng Lê Minh Hưng phân tích, một sản phẩm điện ảnh, hoạt hình hoặc trò chơi điện tử có thể mở ra cơ hội phát triển cho nhiều lĩnh vực liên quan.
Tương tự, việc khai thác phù hợp các giá trị di sản, nghệ thuật truyền thống, thiết kế sáng tạo hay ẩm thực có thể góp phần thúc đẩy du lịch, dịch vụ và quảng bá hình ảnh Việt Nam.
Tuy nhiên, để hiệu ứng lan tỏa đó trở thành hiện thực, việc lựa chọn sản phẩm trọng điểm cần gắn với năng lực sáng tạo, khả năng cạnh tranh, nhu cầu thị trường và bản sắc văn hóa. Cơ chế hỗ trợ cũng cần minh bạch, có tiêu chí rõ ràng, tránh dàn trải hoặc tạo ra sự phụ thuộc vào ưu đãi.
Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là gia tăng số lượng sản phẩm, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, sức hấp dẫn, khả năng cạnh tranh và giá trị mà sản phẩm tạo ra.
Công nghiệp văn hóa phát triển góp phần củng cố sức mạnh mềm quốc gia. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ VHTTDL
Ở góc độ rộng hơn, công nghiệp văn hóa phát triển còn góp phần củng cố sức mạnh mềm quốc gia. Những sản phẩm sáng tạo mang bản sắc Việt Nam khi được lưu thông trên thị trường trong nước và quốc tế không chỉ tạo doanh thu mà còn truyền tải câu chuyện, hình ảnh, con người và giá trị Việt Nam tới công chúng.
Khi văn hóa hiện diện thông qua những sản phẩm có chất lượng, có khả năng cạnh tranh và được tiếp cận rộng rãi, sức lan tỏa của văn hóa sẽ vượt ra ngoài các không gian bảo tồn hay những sự kiện riêng lẻ.
Dự án Luật vì vậy có ý nghĩa như một bước chuyển từ nhận thức về tiềm năng sang xây dựng cơ chế để hiện thực hóa tiềm năng.
Đây không đơn thuần là câu chuyện tạo thêm chính sách cho một số ngành nghề, mà là yêu cầu tổ chức lại các điều kiện phát triển để sáng tạo văn hóa có thể trở thành hoạt động kinh tế bền vững, đóng góp vào tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Từ góc nhìn đó, giá trị lớn nhất của dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là tạo nền tảng để kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa giá trị văn hóa và giá trị kinh tế, giữa sức sáng tạo của xã hội và vai trò kiến tạo của Nhà nước.
Khi những cơ chế phù hợp được hình thành và triển khai hiệu quả, văn hóa sẽ có thêm điều kiện để phát huy vai trò là nguồn lực nội sinh, đồng thời tạo ra những động lực tăng trưởng mới cho đất nước.