Chủ trì hội nghị có Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh; Uỷ viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, Thứ trưởng Hồ An Phong, cùng Lãnh đạo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam và đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ. Hội nghị còn có sự tham dự của ông Tạ Văn Hạ - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đại diện Bộ Công an, Bộ Tài chính và đông đảo các hiệp hội, doanh nghiệp du lịch.
Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh phát biểu tại Hội nghị
Phát biểu khai mạc tại hội nghị, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đánh giá cao sự tham gia, đóng góp ý kiến của các cơ quan Trung ương, các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình xây dựng cơ chế, chính sách phát triển du lịch Việt Nam.
Bộ trưởng nhấn mạnh, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong thời gian qua, các cơ quan của Chính phủ, cơ quan Trung ương đã tham gia vào quá trình xây dựng cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng. Đặc biệt, ý kiến đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp đã được quan tâm, tiếp thu trong quá trình xây dựng chính sách.
Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 07/09/2026 để cụ thể hóa và triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/08/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan chức năng được giao tham mưu xây dựng, trình Quốc hội ban hành nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, qua đó cụ thể hóa các quan điểm, định hướng quan trọng của Nghị quyết số 26.
Theo Bộ trưởng, Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa các chủ trương lớn, đồng thời cụ thể hóa những định hướng, tư duy mới về phát triển du lịch trong giai đoạn mới.
Uỷ viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng phát biểu tại Hội nghị
“Một trong những quan điểm xuyên suốt là phát huy và khai thác hiệu quả mọi nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, xây dựng cơ chế, chính sách và hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện để xã hội, cộng đồng doanh nghiệp tham gia tích cực vào quá trình phát triển, trong đó có lĩnh vực du lịch” – Bộ trưởng cho biết.
Bộ trưởng bày tỏ kỳ vọng nghị quyết sau khi được Quốc hội thông qua sẽ tạo ra những cơ chế, chính sách cụ thể, thiết thực, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực xã hội và nguồn lực từ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Qua đó, tạo động lực thúc đẩy ngành du lịch phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Trong thời gian qua, dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, trực tiếp là Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà, Bộ VHTTDL đã khẩn trương vào cuộc, chủ động nghiên cứu, xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch, nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trong giai đoạn mới.
Quá trình này thể hiện tinh thần tiên phong, quyết liệt và đổi mới trong tư duy hoạch định chính sách của Bộ VHTTDL, với cách tiếp cận lấy thực tiễn làm cơ sở, lấy doanh nghiệp và địa phương làm đối tượng phục vụ, lấy hiệu quả triển khai làm thước đo. Thay vì dừng lại ở những định hướng chung, Bộ tập trung nhận diện các điểm nghẽn, lắng nghe ý kiến từ các bộ, ngành, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp để đề xuất những giải pháp có tính đặc thù, tạo động lực mới, khơi thông nguồn lực và mở rộng dư địa phát triển.
Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh mong muốn các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến thiết thực, giúp hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm nghị quyết sau khi được ban hành có tính khả thi cao và thực sự đi vào cuộc sống.
Đây không chỉ là nỗ lực cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ, mà còn thể hiện quyết tâm của Bộ VHTTDL trong việc kiến tạo môi trường chính sách thuận lợi hơn, thúc đẩy du lịch phát triển thực chất, hiệu quả, từng bước khẳng định vai trò ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước.
7 nhóm chính sách cùng 21 vấn đề cụ thể
Trình bày dự thảo Nghị quyết của Quốc hội tại Hội nghị, Cục phó Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu cho biết, dự thảo được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn, lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương và gửi Bộ Tư pháp thẩm định.
Dự thảo gồm 12 điều, lựa chọn những chính sách then chốt, áp dụng có trọng tâm tại các trung tâm du lịch lớn, khu du lịch quốc gia, bản địa du lịch cộng đồng và vùng khó khăn, ưu đãi gắn với điều kiện, kết quả và co chế giám sát. Các chính sách được thiết kế trên nguyên tắc bám sát tinh thần Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị.
Toàn cảnh Hội nghị
Trong đó, dự thảo gồm 6 chính sách trọng tâm gồm: Ưu đãi đầu tư theo nguyên tắc “càng lớn, càng lan toả, càng được ưu đãi”; Giảm chi phí cho doanh nghiệp, gắn kết với cộng đồng; Mở không gian cho mô hình kinh doanh mới; Đầu tư vào con người; Thị thực thông thoáng; Nhà nước dẫn dắt bằng nguồn lực công.
Định hướng tham vấn tại Hội nghị, Uỷ viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết, Bộ VHTTDL hiện đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, tháo gỡ những điểm nghẽn và tạo cơ chế đủ mạnh để du lịch phát triển đột phá.
Thứ trưởng nhấn mạnh, dự thảo Nghị quyết hướng tới thu hút đầu tư, phát triển sản phẩm du lịch hấp dẫn, tăng mức chi tiêu và thời gian lưu trú của khách, nâng cao năng suất, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Các chính sách được đề xuất theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời bảo đảm các điều kiện hưởng ưu đãi rõ ràng, dễ tiếp cận và có tính khả thi. Đây là những nội dung đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện dự thảo, chưa phải chính sách đã được ban hành.
Cục phó Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu trình bày dự thảo Nghị quyết của Quốc hội tại Hội nghị
Thứ trưởng đề nghị, đại diện các Bộ, ngành, doanh nghiệp tập trung góp ý, phát biểu tập trung vào 7 nhóm vấn đề gồm: Điều kiện và ưu đãi đối với các dự án du lịch; Hỗ trợ cơ sở lưu trú, mở đường bay và liên kết tiêu thụ sản phẩm; Mô hình kinh doanh mới, kinh tế đêm và thử nghiệm có kiểm soát; Nhân lực, đào tạo và nhà ở cho người lao động; Thị thực và khả năng cạnh tranh quốc tế; Du lịch cộng đồng, doanh nghiệp nhỏ và liên kết điểm đến; Hạ tầng, xúc tiến, tín dụng và tổ chức thực hiện.
Cụ thể, nhóm thứ nhất về ưu đãi, dự án du lịch chất lượng cao được đề xuất hỗ trợ hạ tầng, tiếp cận nhà, đất công và xúc tiến thị trường. Dự án du lịch động lực được đề xuất ưu đãi tiền thuê đất, áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 10 năm. Đối với dự án du lịch động lực mang tính chiến lược, dự thảo đề xuất thời hạn hoạt động đến 70 năm, miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
Với nhóm thứ nhất, Thứ trưởng đề nghị tập trung vào 3 vấn đề: Các ngưỡng vốn, lao động có phù hợp thực tế không? Có bỏ sót dự án ứng dụng công nghệ, ít lao động nhưng tạo giá trị cao không? Gói ưu đãi có đủ sức thúc đẩy quyết định đầu tư hoặc mở rộng đầu tư không? Nội dung nào cần điều chỉnh về mức, thời hạn và cách tính? Doanh nghiệp có thể cam kết, chứng minh những kết quả nào về giải ngân, doanh thu du lịch, việc làm, liên kết địa phương và thu hút khách quốc tế?
Đại biểu tham dự Hội nghị
Nhóm thứ hai là chính sách hỗ trợ cơ sở lưu trú, mở đường bay và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Dự thảo đề xuất giảm tối đa 30% tiền thuê đất hằng năm đối với phần cảnh quan, cây xanh, mặt nước và không gian chung không trực tiếp kinh doanh của khách sạn thành phố, khách sạn nghỉ dưỡng từ 4 sao trở lên, có mật độ xây dựng gộp dưới 25%. Đồng thời, địa phương được đề xuất quyết định hỗ trợ mở đường bay mới và liên kết tiêu thụ dài hạn các sản phẩm OCOP của địa phương.
Ở nhóm thứ hai, các vấn đề được đặt ra xoay quanh điều kiện mật độ xây dựng và cách xác định diện tích cảnh quan có phù hợp, dễ xác nhận không? Hãng hàng không cần hỗ trợ gì để mở và duy trì đường bay: xúc tiến thị trường, nguồn khách, chi phí ban đầu hay hình thức khác? Nên gắn hỗ trợ với kết quả nào? Làm thế nào để doanh nghiệp lữ hành, lưu trú tăng mua sản phẩm địa phương, bảo đảm chất lượng và nguồn cung ổn định?
Nhóm thứ ba tập trung vào các mô hình kinh doanh mới, kinh tế đêm và thử nghiệm có kiểm soát. Các lĩnh vực được đề cập gồm kinh tế chia sẻ, nền tảng số, du lịch xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế đêm, du lịch ven sông, ven biển, tổ hợp du lịch và du lịch chăm sóc sức khỏe. Dự thảo đề xuất miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm đối với các mô hình đáp ứng điều kiện; đồng thời nghiên cứu cơ chế thử nghiệm hoạt động 24/7, thủ tục rút gọn và cấp phép một lần đối với một số tổ hợp nghệ thuật, lễ hội, giải trí.
Nhóm này sẽ tập trung vào các vấn đề như Doanh nghiệp đang có mô hình cụ thể nào chưa triển khai được hoặc triển khai khó? Vướng chính xác ở thủ tục, điều kiện hay cơ quan nào? Điều kiện về công nghệ, đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ có phù hợp không? Cần phân biệt thế nào giữa mô hình mới và hoạt động thông thường? Với hoạt động 24/7, sự kiện định kỳ, cần rút gọn thủ tục nào; doanh nghiệp có thể đáp ứng yêu cầu gì về an toàn, tiếng ồn, môi trường và trách nhiệm với cộng đồng?
Ông Tạ Văn Hạ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội phát biểu tại Hội nghị
Nhóm thứ tư là chính sách về nhân lực, đào tạo và nhà ở cho người lao động. Dự thảo đề xuất giảm 50% thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm đối với tiền lương, tiền công đủ điều kiện của chuyên gia, nhân lực chất lượng cao; hỗ trợ tối đa 30% kinh phí đào tạo; hỗ trợ cơ sở đào tạo và bố trí quỹ đất phát triển nhà ở cho người lao động.
Đối với nhóm thứ tư, những vấn đề được đặt ra gồm: Những vị trí, kỹ năng nào đang thiếu nhất và trực tiếp hạn chế khả năng phát triển của doanh nghiệp? Tiêu chí nào xác định đúng chuyên gia, nhân lực chất lượng cao? Mức hỗ trợ đào tạo có đủ khuyến khích doanh nghiệp tham gia không? Doanh nghiệp có thể phối hợp đào tạo, tuyển dụng và đầu tư nhà ở cho người lao động theo hình thức nào?
Nhóm thứ năm là chính sách thị thực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, dự thảo hướng tới xây dựng chính sách thị thực có sức cạnh tranh với các nước trong khu vực về đối tượng, thời hạn, số lần nhập cảnh, chi phí và mức độ thuận tiện. Các nhóm khách được hướng tới gồm khách từ thị trường trọng điểm, khách có mức chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, khách quay lại, khách hội nghị, khách du lịch chăm sóc sức khỏe và người làm việc từ xa.
Tuy nhiên, Thứ trưởng cũng lưu ý đây là bài toán cần được cân nhắc hài hòa. Việt Nam cần nâng cao sức cạnh tranh của chính sách thị thực, đồng thời duy trì lợi thế cốt lõi về an toàn, trật tự an toàn xã hội và bảo đảm an ninh quốc gia. Việc cân bằng giữa yêu cầu tạo thuận lợi cho du lịch và bảo đảm an ninh, an toàn là vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện chính sách.
Đại diện Bộ Công an phát biểu ý kiến tại Hội nghị
Thứ trưởng đề nghị, đại biểu tập trung vào các vấn đề ở nhóm thứ năm gồm: Thị trường nào cần ưu tiên và vì sao? Hiện đang mất khách hoặc khó bán sản phẩm do vướng mắc thị thực nào? Cần cải thiện trước về thời hạn lưu trú, nhập cảnh nhiều lần, thời gian xử lý, chi phí hay thủ tục điện tử? Nếu tháo gỡ, doanh nghiệp dự kiến tăng được bao nhiêu khách, ngày lưu trú, doanh thu hoặc chuyến bay? Có ví dụ đối chiếu với điểm đến cạnh tranh nào?
Nhóm thứ sáu là phát triển du lịch cộng đồng, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và liên kết điểm đến. Dự thảo ưu tiên các điểm du lịch cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và nông thôn; đồng thời đề xuất các chính sách hỗ trợ hạ tầng, bảo tồn văn hóa, đào tạo, chuyển đổi số, quảng bá và kết nối thị trường. Chính quyền địa phương được đề xuất ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh phát triển du lịch xanh, nâng cao chất lượng dịch vụ phù hợp với đặc thù địa phương.
Ở nhóm này, các vấn đề tập trung vào điểm du lịch cộng đồng cần hỗ trợ gì trước để đón khách và kinh doanh bền vững? Doanh nghiệp lữ hành có thể đưa điểm đến vào chương trình du lịch, đào tạo, tiêu thụ sản phẩm và chia sẻ lợi ích với cộng đồng như thế nào? Hồ sơ, điều kiện hỗ trợ cần thiết kế ra sao để hợp tác xã, hộ kinh doanh và cộng đồng thực sự tiếp cận được?
Nhóm thứ bảy là chính sách về hạ tầng, xúc tiến, tín dụng và tổ chức thực hiện. Dự thảo ưu tiên phát triển hạ tầng kết nối, hạ tầng thiết yếu, đồng thời định hướng triển khai các công cụ như quỹ bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất và tín dụng ưu đãi cho du lịch xanh. Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết, sau khi Nghị quyết được ban hành, Bộ dự kiến phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu sáng kiến, chương trình tín dụng ưu đãi đặc biệt dành cho doanh nghiệp du lịch, cùng với hệ thống ngân hàng thương mại.
Vấn đề được đưa ra ở nhóm thứ bảy gồm: Điểm nghẽn hạ tầng, vốn hoặc xúc tiến nào đang cản trở trực tiếp hoạt động đầu tư, kinh doanh? Doanh nghiệp đang hoạt động, dự án đang triển khai hoặc mở rộng cần được xử lý chuyển tiếp thế nào để có thể tiếp cận chính sách? Thủ tục xác nhận điều kiện, giải quyết hỗ trợ và kiểm tra nên tổ chức ra sao để minh bạch, nhanh, tránh phải xin xác nhận ở nhiều cơ quan?
Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết, 7 nhóm chính sách cùng 21 vấn đề cụ thể được đưa ra nhằm gợi mở các nội dung để doanh nghiệp, hiệp hội tham gia đóng góp ý kiến. Thứ trưởng mong muốn nhận được những đề xuất xuất phát từ thực tiễn hoạt động, tập trung vào các vấn đề cần tháo gỡ và những cơ chế thực sự cần thiết để doanh nghiệp có thể tiếp cận, thụ hưởng và triển khai hiệu quả.
Tháo gỡ điểm nghẽn và tạo đột phá cho ngành Du lịch
Đóng góp ý kiến tại Hội nghị, đại diện các Bộ, ngành, doanh nghiệp cơ bản đồng thuận với dự thảo Nghị quyết. Các đại biểu đều khẳng định, việc xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù cần tập trung vào những vấn đề thiết thực, có khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và tạo đột phá cho ngành Du lịch.
Ông Tạ Văn Hạ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đánh giá các nội dung dự thảo cơ bản đã tiếp cận được những vấn đề thực tiễn mà doanh nghiệp quan tâm. Tuy nhiên, để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, các chính sách cần được rà soát theo hướng cụ thể, khả thi và tạo ra những động lực phát triển rõ ràng hơn.
Ông Nguyễn Hồng Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam phát biểu ý kiến tại Hội nghị
Đại diện các đơn vị phát biểu ý kiến
Đối với các dự án du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái, ông Tạ Văn Hạ đề nghị xem xét kỹ các tiêu chí về quy mô diện tích, bảo đảm phù hợp với thực tiễn triển khai. Việc xác định điều kiện hưởng ưu đãi cần hướng tới mục tiêu thúc đẩy đầu tư, phát triển sản phẩm du lịch, tránh đặt ra những tiêu chí chưa sát với nhu cầu thực tế.
Một nội dung được ông Tạ Văn Hạ đề xuất nghiên cứu bổ sung là phát triển văn hóa ẩm thực trong chính sách phát triển du lịch. Theo đó, ẩm thực Việt Nam có tiềm năng quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa dân tộc tới bạn bè quốc tế. Sức hấp dẫn của ẩm thực cũng là một trong những yếu tố thu hút du khách tìm hiểu, trải nghiệm Việt Nam. Vì vậy, cần cân nhắc đưa nội dung này vào dự thảo Nghị quyết, qua đó phát huy tốt hơn giá trị văn hóa ẩm thực gắn với phát triển du lịch.
Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư các dự án du lịch, ông Tạ Văn Hạ cho rằng dự thảo cần thể hiện rõ hơn tính đặc thù của Nghị quyết, thay vì chủ yếu dẫn chiếu đến các quy định hiện hành của Luật Đầu tư và những văn bản liên quan. Những quy định đã có cần được rà soát để tránh trùng lặp; đồng thời, cần làm rõ các cơ chế mới thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển du lịch.
Đối với chính sách dành cho khách sạn tại đô thị, trong đó có điều kiện về mật độ xây dựng, ông Tạ Văn Hạ đề nghị tiếp tục nghiên cứu tính phù hợp với thực tiễn đầu tư, xây dựng và kinh doanh khách sạn, bảo đảm các tiêu chí đưa ra có khả năng áp dụng.
Bên cạnh đó, ông Tạ Văn Hạ lưu ý dự thảo cần quan tâm hơn đến chính sách tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp du lịch. Các nội dung về ưu đãi tín dụng, hỗ trợ lãi suất cần được thiết kế phù hợp, xác định rõ cơ chế thực hiện và thẩm quyền quyết định. Những quy định thuộc nội dung tổ chức thực hiện cần tập trung làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền và cơ chế phối hợp của các cơ quan liên quan, tránh đưa vào những nội dung chưa phù hợp với tính chất của điều khoản này.
Nâng cao hiệu quả phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới.
Phát biểu kết luận, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đánh giá cao các ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm và bám sát thực tiễn tại Hội nghị. Nhấn mạnh sự đa dạng trong cách tiếp cận, Bộ trưởng khẳng định đây là cơ sở quan trọng để hoàn thiện chính sách, đáp ứng kỳ vọng phát triển du lịch theo tinh thần Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị.
Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đánh giá cao các ý kiến đóng góp
“Công tác xây dựng dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách dặc thù phát triển du lịch Việt Nam để tiếp tục cụ thể hóa thể chế, giúp cho tất cả các nguồn lực, động lực, lực lượng tham gia phát triển du lịch có được cơ hội tốt nhất, điều kiện tốt nhất và có sự giúp đỡ chặt chẽ với sự định hướng dẫn dắt của Nhà nước, cùng thúc đẩy phát triển doanh nghiệp đúng tinh thần của Nghị quyết 26” – Bộ trưởng nhấn mạnh.
Tổng kết những ý kiến của các đại biểu, Bộ trưởng cho biết, các ý kiến tập trung vào 9 nhóm vấn đề gồm: Chính sách ưu đãi đầu tư; Chính sách thuế, tiền thuê đất và giá điện; Thị thực và thủ tục hành chính; Kết nối hàng không và phát triển thị trường; Tháo gỡ vướng mắc quy hoạch đất đai và lĩnh vực đầu tư; Xúc tiến du lịch và phát triển nguồn lực lên sách; Doanh nghiệp nhỏ và vừa, du lịch cộng đồng và liên kết vùng; Chuyển đổi số, mô hình kinh doanh và chuyển đổi số; Sự cần thiết phải có đánh giá tác động chính sách.
Bộ trưởng khẳng định, các nhóm chính sách trong dự thảo đã được xây dựng trên cơ sở tham vấn, lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan. Qua quá trình thảo luận, các ý kiến cơ bản có sự thống nhất về những nội dung chủ yếu.
Bộ trưởng nhấn mạnh, dự thảo Nghị quyết cần hướng tới mục tiêu không chỉ tạo động lực cho các dự án đầu tư trong tương lai mà còn góp phần tháo gỡ khó khăn, giải phóng nguồn lực tại các dự án đang hoạt động. Chính sách phải vừa tạo điều kiện cho các dự án quy mô lớn, có khả năng tạo đột phá, vừa quan tâm đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng đồng dân cư và các mô hình du lịch dựa vào thiên nhiên, văn hóa địa phương, qua đó mở rộng cơ hội tham gia và hưởng lợi từ phát triển du lịch.
“Hiệu quả của Nghị quyết không chỉ được đo bằng số lượng cơ chế, chính sách được thông qua, mà quan trọng hơn là khả năng đưa các cơ chế đó vào thực tiễn, khơi thông nguồn lực và tạo ra những giá trị mới cho đất nước. Các chính sách cần phát huy hiệu quả tại từng vùng, từng địa phương, đồng thời thúc đẩy liên kết vùng để hình thành sản phẩm và động lực tăng trưởng mới. Thông qua việc tiếp tục lắng nghe ý kiến doanh nghiệp, hiệp hội và các cơ quan liên quan, dự thảo Nghị quyết sẽ được hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện huy động sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 26” – Bộ trưởng phát biểu.
Bộ trưởng cũng bày tỏ mong muốn các ý kiến đóng góp sẽ cùng hướng tới mục tiêu chung là hình thành những cơ chế thiết thực, tạo động lực mới, khơi thông nguồn lực và nâng cao hiệu quả phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới.