Lên đầu trang
Aa
KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Thứ Sáu, 2/10/2026 14:50 (GMT+7)
Dữ liệu du lịch - Nền tảng đổi mới quản trị và nâng cao hiệu quả kinh doanh
Chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu là cơ sở để đổi mới quản trị điểm đến, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm phù hợp, nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Nâng cao chất lượng dịch vụ cần bắt đầu từ việc nhận diện đúng những khâu còn hạn chế trong hành trình của du khách. Để có giải pháp phù hợp, cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần biết khách đến từ đâu, sử dụng những dịch vụ nào, lưu trú bao lâu, chi tiêu ra sao và đánh giá thế nào về điểm đến. Những thông tin này giúp làm rõ giá trị thực sự được tạo ra từ hoạt động du lịch, đồng thời cung cấp căn cứ để điều chỉnh cách tổ chức và cung ứng dịch vụ.

Đây cũng là hướng tiếp cận được Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đặt ra khi yêu cầu nâng cao năng lực quản trị du lịch theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ số, quản trị theo dữ liệu.

Hệ sinh thái du lịch thông minh của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam hỗ trợ công tác quản lý, hoạt động kinh doanh và trải nghiệm du khách

Dữ liệu phục vụ đổi mới quản trị điểm đến

Khi hiệu quả phát triển du lịch được nhìn nhận từ chất lượng trải nghiệm và giá trị kinh tế, số lượt khách cần được đặt trong mối liên hệ với thời gian lưu trú, mức chi tiêu, khả năng đáp ứng của hệ thống dịch vụ và mức độ hài lòng. Một điểm đến đón đông khách chưa chắc đã khai thác hiệu quả tiềm năng nếu khách chỉ dừng lại trong thời gian ngắn, ít sử dụng dịch vụ hoặc chưa có lý do để quay trở lại.

Bởi vậy, dữ liệu phục vụ quản trị cần phản ánh được cả quy mô hoạt động và chất lượng phục vụ. Thông tin về lượng khách, cơ sở lưu trú, sản phẩm, dịch vụ khi được cập nhật và phân tích cùng với phản hồi của du khách có thể giúp cơ quan quản lý nhận diện những khâu cần cải thiện, từ khả năng tiếp cận điểm đến đến việc tổ chức tham quan, lưu trú, mua sắm và vui chơi, giải trí.

Nghị quyết số 26-NQ/TW yêu cầu quản trị hệ thống du lịch dựa trên đánh giá năng lực phát triển điểm đến, gắn với các tiêu chí về khách du lịch, tổng thu, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, chất lượng điểm đến, an toàn, môi trường, chuyển đổi số và mức độ hài lòng của du khách. Nghị quyết đồng thời đặt ra nhiệm vụ ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu phục vụ dự báo, hoạch định chính sách, xúc tiến quảng bá, phát triển sản phẩm và quản trị sức chứa, phân luồng khách.

Từ định hướng này, việc khai thác dữ liệu cần gắn với những bài toán cụ thể của từng địa bàn. Với các điểm đến có lượng khách tập trung vào một số thời điểm, thông tin về nhu cầu đặt dịch vụ, công suất lưu trú và lưu lượng tại điểm tham quan có thể hỗ trợ dự báo áp lực phục vụ. Khi có căn cứ phù hợp, địa phương và đơn vị quản lý có thể chủ động bố trí nhân lực, tổ chức giao thông, điều chỉnh hoạt động đón khách và tăng cường các phương án bảo đảm an toàn.

Ở chiều ngược lại, dữ liệu về những giai đoạn ít khách giúp nhận diện nhu cầu cần khai thác, làm cơ sở xây dựng sản phẩm và chương trình xúc tiến phù hợp. Việc điều tiết hoạt động du lịch theo đó có thể gắn chặt hơn với năng lực của điểm đến, góp phần hạn chế quá tải cục bộ và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, nhân lực trong cả năm.

Du khách qua cổng soát vé điện tử tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Ảnh: TITC

Dữ liệu cũng hỗ trợ lựa chọn ưu tiên đầu tư. Khi thông tin về nhu cầu của khách được đối chiếu với khả năng cung ứng dịch vụ, địa phương có thêm căn cứ xác định những hạng mục cần bổ sung, những tuyến cần tăng cường kết nối hoặc những sản phẩm cần nâng cao chất lượng. Nhờ đó, phân bổ nguồn lực có thể bám sát yêu cầu thực tế, gắn đầu tư với hiệu quả phục vụ và giá trị kinh tế.

Chuẩn hóa và kết nối để phát huy giá trị dữ liệu

Để hỗ trợ những quyết định quản trị như vậy, dữ liệu cần được tổ chức thống nhất và có khả năng kết nối. Hoạt động du lịch liên quan đến nhiều chủ thể, từ cơ quan quản lý, chính quyền địa phương đến doanh nghiệp lữ hành, vận chuyển, lưu trú, điểm tham quan và các nền tảng đặt dịch vụ trực tuyến. Mỗi chủ thể nắm giữ một phần thông tin về thị trường và hành trình của du khách.

Nếu các nguồn thông tin chỉ được khai thác riêng lẻ, việc đánh giá tổng thể sẽ gặp hạn chế. Dữ liệu lưu trú giúp nhận biết thời gian khách ở lại nhưng cần được đối chiếu với thông tin về sản phẩm, dịch vụ và phản hồi của khách để làm rõ khả năng gia tăng trải nghiệm. Tương tự, lượng khách tại một điểm tham quan cần được xem xét trong mối liên hệ với các dịch vụ xung quanh để đánh giá khả năng kết nối và khai thác giá trị của điểm đến.

Vì vậy, chuẩn hóa dữ liệu là bước cần thiết để thông tin từ nhiều nguồn có thể được tổng hợp, so sánh và sử dụng hiệu quả. Các dữ liệu về doanh nghiệp, cơ sở lưu trú, điểm đến, sản phẩm và dịch vụ cần có cách xác định thống nhất, được cập nhật phù hợp và hạn chế trùng lặp. Chất lượng dữ liệu phải được chú trọng ngay từ khâu thu thập, bởi thông tin thiếu chính xác hoặc chậm cập nhật có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích và quyết định sử dụng nguồn lực.

Trên nền tảng đó, kết nối và chia sẻ dữ liệu giúp mở rộng khả năng khai thác thông tin giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia theo hướng kết nối, chia sẻ giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương và các doanh nghiệp; từng bước tích hợp vào nền tảng dữ liệu quốc gia dùng chung để giải quyết các vấn đề phối hợp liên ngành.

Giao diện website Cơ sở dữ liệu Du lịch Việt Nam, phục vụ công tác quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương

Việc chia sẻ cần xác định rõ mục đích, phạm vi khai thác và trách nhiệm của các bên. Thông tin dùng chung phải hỗ trợ được hoạt động quản lý, nghiên cứu thị trường và kinh doanh, đồng thời bảo đảm an toàn dữ liệu, bảo vệ thông tin cá nhân của du khách. Đây là điều kiện để các chủ thể tham gia có sự tin cậy và duy trì việc cập nhật, chia sẻ thông tin.

Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, cơ quan quản lý có thể nhìn rõ hơn mối liên hệ giữa thị trường, sản phẩm và năng lực phục vụ của từng địa bàn. Doanh nghiệp cũng có thêm thông tin để lựa chọn đối tác, xây dựng tuyến, kết nối dịch vụ và tiếp cận những nhóm khách phù hợp. Giá trị của dữ liệu vì thế được thể hiện qua khả năng hỗ trợ phối hợp và nâng cao hiệu quả của toàn bộ chuỗi dịch vụ.

Khai thác dữ liệu thị trường để nâng cao hiệu quả kinh doanh

Đối với doanh nghiệp, dữ liệu là cơ sở để giảm sự phụ thuộc vào kinh nghiệm chủ quan khi lựa chọn thị trường, thiết kế sản phẩm và tổ chức kinh doanh. Nắm bắt được nhu cầu, khả năng chi trả, thời gian lưu trú và phản hồi của từng nhóm khách giúp doanh nghiệp xác định rõ hơn đối tượng phục vụ, từ đó lựa chọn cách tiếp cận phù hợp.

Chẳng hạn, khi dữ liệu cho thấy khách có nhu cầu trải nghiệm văn hóa nhưng thời gian lưu trú còn ngắn, doanh nghiệp có thể nghiên cứu kết nối chương trình tham quan với ẩm thực, biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động trải nghiệm tại địa phương. Nếu phản hồi tập trung vào sự bất tiện khi di chuyển hoặc thiếu thông tin dịch vụ, việc cải thiện những khâu này cần được ưu tiên trong quá trình hoàn thiện sản phẩm.

Thông tin về nhu cầu theo mùa và thời điểm cũng hỗ trợ doanh nghiệp chủ động kế hoạch vận hành. Dự báo sát hơn khả năng đặt dịch vụ giúp cơ sở lưu trú bố trí nhân lực, doanh nghiệp lữ hành chuẩn bị chương trình và các đơn vị cung ứng phối hợp phục vụ. Qua đó, doanh nghiệp có thể hạn chế tình trạng thiếu nguồn lực khi khách tăng cao hoặc duy trì chi phí vượt quá nhu cầu trong giai đoạn thấp điểm.

Nắm bắt nhu cầu thị trường giúp doanh nghiệp du lịch lựa chọn sản phẩm phù hợp, nâng cao hiệu quả tiếp cận khách hàng và kinh doanh. Ảnh minh họa/VOV

Dữ liệu còn giúp đánh giá hiệu quả quảng bá. Khi biết nhóm khách nào quan tâm đến sản phẩm, kênh thông tin nào tạo ra nhu cầu và hoạt động nào mang lại kết quả, doanh nghiệp có cơ sở điều chỉnh nội dung truyền thông, lựa chọn thị trường và sử dụng kinh phí tiếp thị hợp lý hơn. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng tiếp cận thông tin thị trường phù hợp có thể hỗ trợ tập trung nguồn lực vào những sản phẩm và nhóm khách có tiềm năng.

Để phát huy hiệu quả, khai thác dữ liệu cần trở thành một phần của quá trình cải thiện dịch vụ. Phản hồi của khách phải được xem xét cùng với thông tin về đặt dịch vụ, vận hành và kết quả kinh doanh để nhận diện nguyên nhân, điều chỉnh sản phẩm, sau đó tiếp tục theo dõi mức độ đáp ứng. Quá trình này giúp doanh nghiệp từng bước nâng cao chất lượng phục vụ trên cơ sở những thông tin có thể kiểm chứng.

Từ quản trị điểm đến đến hoạt động kinh doanh, dữ liệu chỉ tạo ra giá trị khi được chuyển thành quyết định và hành động cụ thể. Hiệu quả khai thác cần được thể hiện ở khả năng phân bổ nguồn lực hợp lý hơn, phát triển sản phẩm sát nhu cầu hơn và cải thiện trải nghiệm của du khách.

Một nền tảng dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và cập nhật cũng tạo điều kiện để phát triển các sản phẩm công nghệ phù hợp với nhu cầu quản lý, kinh doanh và đặc điểm của du lịch Việt Nam. Đây là bước tiếp nối cần thiết để công nghệ đi vào giải quyết những vấn đề thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và giá trị mỗi hành trình./.

Trường Đức
Cùng chuyên mục
Bản đồ số Văn hóa Việt Nam: Kết nối sự kiện, điểm đến và trải nghiệm văn hóa
Từ tìm kiếm một sự kiện đang diễn ra đến khám phá bảo tàng, di tích, không gian văn hóa hay những hoạt động cộng đồng tại từng địa phương, Bản đồ số Văn hóa Việt Nam hướng tới hình thành một không gian số trực quan, kết nối thông tin văn hóa với địa điểm và trải nghiệm của người dùng.
Liên đoàn Xiếc Việt Nam tiên phong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo trong nghệ thuật
Thực hiện đợt cao điểm 100 ngày thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Liên đoàn Xiếc Việt Nam (Bộ VHTTDL) đang từng bước đổi mới từ cách tiếp cận công chúng đến phương thức sáng tạo và tổ chức biểu diễn. Từ phát triển website, bán vé trực tuyến đến ứng dụng 3D Mapping trên sân khấu và thử nghiệm những mô hình biểu diễn mới, công nghệ đang được đặt trong một tư duy rộng hơn: tạo thêm không gian cho nghệ thuật xiếc tiếp cận công chúng và phát triển trong đời sống đương đại.
Bộ VHTTDL đẩy mạnh kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành
Thực hiện lộ trình được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 11/NQ-CP, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang triển khai xây dựng, kết nối và liên thông 07 cơ sở dữ liệu chuyên ngành, từng bước hình thành hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và khai thác, sử dụng hiệu quả.
Nâng cao năng lực số, đưa công nghệ vào thực tiễn truyền thông ngành VHTTDL
Một trong những hoạt động đáng chú ý trong quá trình triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số là việc nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) triển khai gắn với những yêu cầu cụ thể của công việc.
Bản sắc giao thoa sáng tạo: Bước chuyển mình của văn hóa Việt
Lấy bản sắc làm gốc và lấy sáng tạo làm động lực phát triển. Việc chủ động đổi mới cách kể chuyện đang giúp ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chạm tới công chúng một cách tự nhiên hơn – để di sản không chỉ được gìn giữ, mà thực sự sống cùng thế hệ hôm nay.
EMC Đã kết nối EMC