Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và công nghiệp sáng tạo luôn gắn liền với vai trò then chốt của công tác bảo hộ quyền tác giả, trong đó việc bảo đảm nhuận bút, thù lao cho đội ngũ sáng tác là thước đo quan trọng hàng đầu. Nhìn lại lịch sử phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định văn nghệ sĩ, người làm công tác sáng tạo là lực lượng nòng cốt tạo ra các giá trị tinh thần cho xã hội. Việc ban hành Nghị định số 287/2026/NĐ-CP (ngày 17/7/2026) không chỉ là bước cụ thể hóa thể chế pháp luật mà còn là cú hích chiến lược, tháo gỡ điểm nghẽn về kinh tế trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật hiện đại.
Định hướng phát triển công nghiệp văn hoá
Trong hơn một thập kỷ qua, hệ thống văn bản pháp luật về nhuận bút và thù lao đã tạo hành lang pháp lý nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người làm nghệ thuật. Trọng tâm trong số đó là Nghị định số 21/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn, cùng với Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ngày 14/03/2014 trong lĩnh vực báo chí, xuất bản. Thời gian đầu, các văn bản này đã góp phần động viên, khuyến khích tinh thần lao động nghệ thuật của văn nghệ sĩ trên cả nước.
Đặc biệt, định hướng phát triển công nghiệp văn hóa luôn được Đảng và Nhà nước nhấn mạnh qua nhiều văn kiện và chủ trương lớn như, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ chiến lược: "Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa".
Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt yêu cầu "hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo hộ và khai thác hiệu quả, hợp lý các tài sản trí tuệ do Việt Nam tạo ra". Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật công bằng, "lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo".
Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 29/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương sửa đổi, ban hành các chính sách tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện cho các lĩnh vực trọng điểm như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế... phát triển.
Tuy nhiên, thời gian qua các cơ chế cũ đã lộ rõ sự bất cập và không còn theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của thực tiễn. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng sự bùng nổ của không gian số, mạng xã hội và các phương thức truyền thông mới đã làm thay đổi căn bản điều kiện sáng tác cũng như phương thức khai thác, sử dụng tác phẩm. Những định mức nhuận bút cũ chưa tiệm cận với giá trị thị trường và công sức thực tế của người nghệ sĩ.
Một số tồn tại trong việc chi trả tiền bản quyền thực sự chưa tạo được cơ chế khuyến khích cho sáng tạo nghệ thuật như, áp đặt định mức kinh tế - kỹ thuật cơ học, nhiều chuyên gia chỉ ra rằng việc áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật vào lao động nghệ thuật là chưa hợp lý, bởi giá trị sáng tạo không thể đong đếm cơ học theo ngày công lao động hay khối lượng nguyên vật liệu sử dụng.
Hay những bất cập trong dự án sử dụng ngân sách nhà nước, chưa có quy định rõ ràng, linh hoạt về tiền bản quyền đối với các tác phẩm do cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu. Sự xuất hiện của nhiều loại hình nghệ thuật và công nghệ sáng tác mới dẫn đến việc nhiều vai trò, chức danh sáng tạo thực tế chưa được bổ sung vào quy định, làm ảnh hưởng đến căn cứ tính thù lao. Những vướng mắc trong dự toán và thanh quyết toán thể hiện rõ ở khâu bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước để chi trả tiền bản quyền còn nhiều bất cập, khiến nhiều địa phương và đơn vị sự nghiệp gặp khó khăn trong quá trình triển khai các dự án văn hóa - nghệ thuật…
Hình minh hoạ
Đảm bảo các ngành công nghiệp văn hóa phát triển chuyên nghiệp
Việc Nghị định số 287/2026/NĐ-CP được ban hành và chính thức đi vào thực tiễn từ ngày 01/9/2026 đánh dấu cột mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Bằng việc tháo gỡ các nút thắt về cơ chế chi trả, xác định rõ các chức danh sáng tạo và bổ sung chế độ thưởng khuyến khích thỏa đáng, Nghị định không chỉ bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần cho người làm nghệ thuật mà còn tạo niềm tin, động lực để họ tận tâm cống hiến.
Đây chính là cơ sở vững chắc để các ngành công nghiệp Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản phát triển chuyên nghiệp, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Được xem là bước đột phá pháp lý thay thế hoàn toàn các Nghị định 18/2014/NĐ-CP và Nghị định 21/2015/NĐ-CP. Quy định mới này hướng tới việc bảo vệ toàn diện quyền lợi cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và các chức danh sáng tạo thuộc 6 lĩnh vực then chốt: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản.
Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 4 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ (đã được sửa đổi, bổ sung qua các năm 2009, 2019, 2022 và các luật mới năm 2025). Nghị định áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước; các đơn vị khai thác, sử dụng quyền tác giả/quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý; cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Nghị định xác định rõ các khung pháp lý linh hoạt: đối với việc sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu gắn với quy định cụ thể của Nghị định. Đối với việc khai thác tài sản sở hữu nhà nước, tiền bản quyền được thỏa thuận bằng văn bản dựa trên quy định pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan và tình hình thực tế.
Nghị định 287/2026/NĐ-CP cho phép áp dụng thanh toán một lần, thanh toán theo từng lần khai thác, thanh toán định kỳ (tháng, quý, năm) hoặc các phương thức thanh toán linh hoạt khác do các bên thỏa thuận.
Đặc biệt, một trong những điểm mới đáng chú ý tại Nghị định mới là quy định về tiền bản quyền khuyến khích. Đây là khoản tiền bản quyền được trả thêm nhằm tôn vinh và động viên các sáng tạo trong những hoàn cảnh khó khăn hoặc mang ý nghĩa xã hội cao. Tác phẩm thuộc đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số; loại hình nghệ thuật truyền thống có xác định tác giả; các thể loại nghệ thuật đỉnh cao như giao hưởng, Opera, kịch múa (ba lê), xiếc; thể loại phóng sự điều tra hoặc tác phẩm dành cho người khuyết tật.
Tác giả là công dân Việt Nam sáng tạo trực tiếp bằng tiếng nước ngoài; tác giả người Kinh sáng tạo bằng tiếng dân tộc thiểu số; người dân tộc thiểu số sáng tạo bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác hoặc sáng tạo trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm. Trường hợp Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan mà việc khai thác mang lại lợi nhuận, các tác giả và chức danh sáng tạo được hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích theo thỏa thuận dựa trên mức độ đóng góp, với tổng số không quá 10% lợi nhuận thu được (xác định theo năm tài chính hoặc đợt khai thác).
Nghị định cũng quy định cụ thể việc phân chia tiền bản quyền giữa các nhóm tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 17/2023/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 134/2026/NĐ-CP). Trường hợp làm tác phẩm phái sinh, chủ sở hữu của tác phẩm gốc được hưởng một phần tỷ lệ hợp lý trên tổng số tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo, khai thác tác phẩm phái sinh đó.
Để bảo đảm Nghị định đi vào cuộc sống, cơ chế tài chính cũng được khơi thông, các tổ chức, cá nhân được phép lập dự toán, thanh toán và quyết toán kinh phí trả tiền bản quyền từ nhiều nguồn đa dạng bao gồm nguồn ngân sách nhà nước, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn thu từ cho phép khai thác quyền tác giả và các nguồn tài trợ hợp pháp khác.