Tham dự buổi làm việc có Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà; Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và lãnh đạo một số bảo tàng.
Về phía Bộ VHTTDL có Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh; Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng; các Thứ trưởng: Trịnh Thị Thủy, Tạ Quang Đông, Hoàng Đạo Cương, Phan Tâm, Hồ An Phong cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc
Phát biểu khai mạc buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, công tác bảo tồn, bảo tàng là vấn đề có ý nghĩa văn hóa, lịch sử, khoa học, xã hội rất sâu sắc; là nguồn cội của dân tộc từ ngày xưa, hôm nay và mai sau.
“Bảo tồn, bảo tàng không phải là câu chuyện của di tích, di vật hay công trình mà đó là cách một quốc gia gìn giữ lịch sử, tích lũy tri thức và khẳng định bản sắc dân tộc. Đó là trách nhiệm của thế hệ hiện tại đối với lịch sử và cũng là trách nhiệm của thế hệ hiện tại chúng ta đối với tương lai. Vì thế chúng ta có rất nhiều việc phải làm và phải làm ngay, làm quyết liệt, đến nơi đến chốn trong công tác bảo tồn, bảo tàng” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định.
Những kết quả nổi bật trong công tác bảo tồn, bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa
Báo cáo tại buổi làm việc, Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh cho biết, thời gian qua, công tác bảo tồn, bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa đã đạt nhiều kết quả quan trọng, nhận được sự quan tâm ngày càng lớn của Đảng, Nhà nước và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Việt Nam không chỉ từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ di sản trong nước mà còn khẳng định vai trò, vị thế ngày càng rõ nét trong các cơ chế quốc tế về di sản văn hóa, đặc biệt là tại UNESCO. Việt Nam hiện là một trong hai quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về số lượng di sản thế giới được UNESCO công nhận, ghi danh trong lĩnh vực di sản văn hóa.
Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà phát biểu tại buổi làm việc
Một trong những kết quả nổi bật là hệ thống thể chế về di sản văn hóa ngày càng được hoàn thiện. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam, đặt nền móng cho công tác bảo vệ di sản ở nước ta. Năm 2001, Quốc hội thông qua Luật Di sản văn hóa và sửa đổi, bổ sung năm 2009. Đặc biệt, Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã tạo khuôn khổ pháp lý toàn diện hơn cho công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong giai đoạn phát triển mới. Đến nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này cơ bản được hoàn thiện, tạo nền tảng để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn di sản.
Trong bảo tồn và phát huy giá trị di tích, công tác đầu tư tu bổ, tôn tạo được quan tâm, nhiều di tích duy trì tình trạng kỹ thuật tốt, bảo đảm gìn giữ các giá trị lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật. Đáng chú ý, nhiều di tích, danh lam thắng cảnh sau khi được xếp hạng, ghi danh đã trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút khách du lịch, tạo việc làm, thu nhập và sinh kế cho cộng đồng địa phương. Việc kết hợp các giá trị di sản văn hóa phi vật thể, làng nghề, nghệ thuật biểu diễn truyền thống với các khu di sản thế giới đã góp phần gia tăng sức hấp dẫn của sản phẩm du lịch. Những địa danh như Tràng An, Hội An, Phố cổ Hà Nội ngày càng trở thành những thương hiệu du lịch nổi bật của Việt Nam.
Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng phát biểu tại buổi làm việc
Đối với di sản văn hóa phi vật thể, phương thức bảo tồn ngày càng phù hợp hơn với đặc thù của từng loại hình, đồng thời chuyển mạnh theo hướng gắn bảo tồn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và sinh kế cộng đồng. Quyền thực hành văn hóa của cộng đồng chủ thể được chú trọng thông qua việc hỗ trợ điều kiện thực hành, truyền dạy, duy trì các câu lạc bộ và nhóm thực hành. Hoạt động truyền dạy cũng được mở rộng tại cộng đồng, trường học, thiết chế văn hóa và cơ sở đào tạo, qua đó góp phần duy trì sức sống của di sản và tạo điều kiện để các giá trị truyền thống được trao truyền cho thế hệ trẻ.
Di sản tư liệu có bước phát triển đáng ghi nhận. Việt Nam tham gia Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO từ năm 2007. Di sản tư liệu đã được chính thức quy định trong Luật Di sản văn hóa năm 2024, tạo cơ sở pháp lý để tăng cường nhận diện, kiểm kê và bảo vệ loại hình di sản này. Đến nay, 3 tỉnh, thành phố đã công bố danh mục kiểm kê di sản tư liệu; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ để gửi UNESCO đề nghị ghi danh 3 di sản vào các danh mục di sản tư liệu khu vực và thế giới.
Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh báo cáo công tác bảo tồn, bảo tàng tại buổi làm việc
Một dấu ấn nổi bật khác là công tác bảo vệ di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia, đặc biệt là việc đưa các giá trị di sản có nguồn gốc Việt Nam trở về nước. Từ năm 2015 đến nay, các địa phương, tổ chức và cá nhân ngày càng quan tâm hơn đến việc bảo vệ, trưng bày cổ vật. Các cơ quan, tổ chức Nhà nước đã tiếp nhận 934 di vật, cổ vật và tác phẩm nghệ thuật có nguồn gốc Việt Nam từ nước ngoài về nước. Đặc biệt, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an hoàn thiện thủ tục đưa ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” từ Pháp về nước. Cùng với đó, Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 28 của Quốc hội được đánh giá là tạo bước đột phá mới trong bảo vệ và phát huy giá trị di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.
Hệ thống bảo tàng tiếp tục được củng cố và phát triển mạnh cả về số lượng, loại hình và phương thức hoạt động. Cả nước có 204 bảo tàng gồm những bảo tàng đầu tiên được xây dựng từ đầu thế kỷ XX đến trước tháng 7/2025. Sau khi sắp xếp địa giới hành chính, hệ thống hiện có 177 bảo tàng, gồm 94 bảo tàng công lập và 83 bảo tàng ngoài công lập. Các bảo tàng ngày càng đa dạng về lĩnh vực chuyên ngành; nhiều đơn vị chú trọng đổi mới nội dung, hình thức trưng bày, tăng cường số hóa và ứng dụng khoa học công nghệ, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và sức hấp dẫn đối với công chúng trong nước cũng như khách quốc tế.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn phát biểu tại buổi làm việc
Chuyển đổi số đang tạo ra bước tiến mới trong quản lý và bảo tồn di sản. Trong giai đoạn 2021-2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai các hệ thống thông tin quản lý di sản, hoàn thành số hóa 100% hồ sơ di sản văn hóa được công nhận, ghi danh, xếp hạng cấp quốc gia và di sản văn hóa thế giới từ năm 1962 đến nay. Đồng thời, đã thực hiện số hóa đối với 3 di tích quốc gia đặc biệt và 100 bảo vật quốc gia. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và khai thác giá trị di sản trong môi trường số. Giai đoạn 2026-2030 sẽ tiếp tục hoàn thành việc tích hợp nền tảng quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa.
Công tác quản lý nhà nước và phân cấp, phân quyền cũng có bước chuyển mạnh. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia và Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam trong xây dựng pháp luật, lập hồ sơ di sản, thẩm định quy hoạch, xây dựng tiêu chuẩn, bảo vệ di sản, ngăn chặn hành vi xâm hại và đưa cổ vật về nước. Luật Di sản văn hóa năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã phân cấp mạnh cho địa phương: trong 101 nhiệm vụ liên quan đến thẩm quyền theo Luật, đã có 77 nhiệm vụ được phân cấp, chiếm 76%. Đáng chú ý, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 dành 25% kinh phí cho đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích, xây dựng và chỉnh lý bảo tàng; riêng năm 2026, tỷ lệ này là 40%.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân phát biểu tại buổi làm việc
Trên phương diện hợp tác quốc tế, Việt Nam tiếp tục hợp tác với UNESCO và các tổ chức tư vấn quốc tế trong đánh giá, xây dựng hồ sơ, thẩm định, trao đổi chuyên gia, đào tạo nhân lực, nghiên cứu trưng bày và giới thiệu di sản. Đội ngũ cán bộ Việt Nam ngày càng được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và ngoại ngữ, tích cực tham gia các cơ chế, nền tảng quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng. Qua đó, vai trò và vị thế của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về di sản ngày càng được khẳng định.
Khắc phục những điểm nghẽn trong công tác bảo tồn, bảo tàng
Theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, nhìn tổng thể, công tác bảo tồn, bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa đang có những chuyển biến tích cực cả về thể chế, quản lý, nguồn lực và phương thức hoạt động. Nhận thức xã hội và sự tham gia của cộng đồng ngày càng được nâng lên; vai trò của cộng đồng chủ thể được khẳng định rõ hơn. Di sản không chỉ được bảo vệ như những giá trị cần lưu giữ mà ngày càng trở thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, du lịch và công nghiệp văn hóa, góp phần xây dựng con người, củng cố khối đại đoàn kết và quảng bá hình ảnh Việt Nam. Hệ thống bảo tàng được củng cố, đa dạng hóa; chuyển đổi số mở ra phương thức mới trong quản lý và tiếp cận di sản; đồng thời vị thế của Việt Nam tại UNESCO và trong hợp tác quốc tế tiếp tục được nâng cao.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu tại buổi làm việc
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai công tác bảo tồn, bảo tàng, vẫn còn những “điểm nghẽn” cần khắc phục trong một số vấn đề như xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh, giữa lợi ích trước mắt và yêu cầu phát triển bền vững…
Bộ trưởng nhấn mạnh, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, để từng bước khắc phục những khoảng trống trong phát triển văn hóa, đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ rõ, công tác bảo tồn, bảo tàng cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm.
Trước hết, cần rà soát tổng thể hệ thống di sản, di tích, bảo tàng, thiết chế văn hóa lớn cùng các công trình, dự án liên quan; tập trung khắc phục những hạn chế, vướng mắc, bất cập và sai sót trong công tác quản lý, tổ chức thực hiện. Bảo tồn phải có trọng tâm, trọng điểm, đúng định hướng, gắn với mục tiêu phát triển của địa phương và đất nước; qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo tồn, bảo tàng, đồng thời xây dựng và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể.
Lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương phát biểu tại buổi làm việc
Cùng với đó, cần đẩy nhanh việc chuẩn hóa, số hóa và đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu văn hóa số quốc gia; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý di tích, di sản một cách khoa học, hiệu quả, đầy đủ và bền vững nhằm bảo đảm năng lực bảo vệ chủ quyền văn hóa quốc gia trên môi trường số, cả trước mắt và lâu dài.
Đồng thời, xây dựng chính sách, giải pháp phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa, gắn bảo tồn với phát triển công nghiệp văn hóa, qua đó tạo ra các giá trị kinh tế mới, đóng góp thiết thực vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Đạo Cương phát biểu tại buổi làm việc
Song song với đó, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung những cơ sở dữ liệu, tư liệu, hiện vật còn thiếu; đồng thời lựa chọn, xây dựng, phát triển và bổ sung những giá trị mới. Đối với hệ thống bảo tàng, việc quy hoạch cần đi đôi với xây dựng các tiêu chí, quy trình và cơ chế đánh giá tiềm năng, bảo đảm sự cân đối giữa các lĩnh vực, gồm bảo tàng chính trị; bảo tàng lực lượng vũ trang; bảo tàng nghệ thuật; bảo tàng thiên nhiên, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp, biển, sinh học; bảo tàng chuyên ngành và bảo tàng tổng hợp của địa phương. Việc phát triển hệ thống bảo tàng cần phù hợp với năng lực, điều kiện của ngành và địa phương theo địa giới hành chính mới.
Đặc biệt, các bảo tàng có hoạt động trưng bày, phục vụ công chúng cần gắn với việc xây dựng sản phẩm văn hóa, du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa, từng bước nâng cao khả năng tự chủ và sức hấp dẫn đối với công chúng.
Đại diện các đơn vị thuộc Bộ VHTTDL phát biểu tại buổi làm việc
Bộ VHTTDL cũng xác định cần phối hợp tham mưu cơ chế thúc đẩy đầu tư, xây dựng và hoàn thiện một số công trình, thiết chế văn hóa, bảo tàng xứng tầm, hướng tới các dấu mốc lớn như kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và 100 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến, nơi tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thể thao tầm cỡ quốc tế. Trong đó có định hướng xây dựng Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam cùng một số công trình như nhà hát, trung tâm nghệ thuật, trung tâm thể thao, sân vận động... Đây không chỉ là những thiết chế phục vụ nhu cầu văn hóa, xã hội trước mắt mà còn có thể trở thành những công trình có giá trị lâu dài, đóng góp vào diện mạo văn hóa của đất nước trong tương lai.
Một trong những yêu cầu quan trọng được Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đề cập là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới và hội nhập quốc tế.
Các đại biểu tham dự buổi làm việc
Theo đó, cần tăng cường đào tạo, chú trọng những lĩnh vực còn thiếu và đang đặt ra yêu cầu cấp thiết như bảo quản, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; đồng thời bổ sung, kiện toàn đội ngũ cán bộ quản lý, nhà khoa học, chuyên gia và cán bộ chuyên môn, từng bước hình thành đội ngũ nhân lực có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong điều kiện mới.
Việt Nam cũng cần tiếp tục củng cố vai trò, vị thế và kinh nghiệm trong tham gia các cơ chế, tổ chức quan trọng của UNESCO; chú trọng bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia tư vấn độc lập để tham gia các cơ quan chuyên môn sâu của quốc tế. Qua đó, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng, đưa các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm, tri thức và tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Từ đó, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh báo cáo, đề xuất Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện và chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phối hợp với Bộ VHTTDL triển khai hiệu quả các nhiệm vụ cụ thể. Trong đó, cần ưu tiên đầu tư một số bảo tàng trọng điểm, từng bước hình thành khối bảo tàng có đủ năng lực, điều kiện để tiếp cận trình độ của các bảo tàng hàng đầu thế giới trong những năm tới.
Các đại biểu tham dự buổi làm việc
Nhà nước và các địa phương cần ưu tiên quy hoạch, dành quỹ đất để đầu tư xây dựng các công trình, dự án trọng điểm, thiết chế văn hóa, bảo tàng mới xứng tầm, có khả năng trở thành những di sản của tương lai. Cùng với đó là tạo điều kiện về vốn, tín dụng, ưu đãi thuế; xây dựng cơ chế tạo nguồn thu, huy động nguồn lực xã hội và chia sẻ rủi ro nhằm khuyến khích đầu tư cho công tác bảo tồn, bảo tàng và phát triển công nghiệp văn hóa.
Trong thời gian tới, cần nghiên cứu đầu tư xây dựng Trung tâm quốc gia về bảo quản và phục chế di sản văn hóa, bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn để bảo vệ lâu dài di tích, hiện vật, Bảo vật quốc gia và các tác phẩm nghệ thuật.
Trung tâm có thể đặt tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thực hiện các nhiệm vụ như phân tích, chẩn đoán, bảo quản phòng ngừa, bảo quản trị liệu, phục chế khoa học, cứu hộ hiện vật; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn, chuyển giao công nghệ và đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực bảo quản, phục chế di sản.
Những nhiệm vụ, giải pháp và đề xuất trên nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo tồn, bảo tàng; gìn giữ, trao truyền và phát huy bền vững kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Đồng thời, qua đó khai thác hiệu quả hơn nguồn lực văn hóa, biến các giá trị di sản thành nguồn lực cho phát triển, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển từ bảo tồn thụ động sang chủ động kiến tạo
Đánh giá cao báo cáo của Bộ VHTTDL về công tác bảo tồn, bảo tàng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gợi mở một số định hướng trong công tác bảo tồn, bảo tàng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải nhìn lại một cách nghiêm túc năng lực kiến tạo và cấu trúc của hệ thống bảo tồn, bảo tàng; đồng thời xử lý dứt điểm những bất cập, dự án kéo dài và từng bước làm giàu các bộ sưu tập quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc
Bộ VHTTDL phải hoàn thành bước rà soát sơ bộ, nhận diện những vấn đề cấp bách. Trong đó, báo cáo tổng thể cần xác định rõ danh mục ưu tiên và phương án xử lý đối với từng nhóm vấn đề. Việc rà soát cần bao gồm cả tình trạng các di tích, mức độ xuống cấp của những thiết chế đang vận hành và thứ tự ưu tiên đầu tư; tránh sửa chữa nhỏ lẻ, chắp vá kéo dài, đầu tư nhiều lần nhưng cuối cùng vẫn không giải quyết được căn bản vấn đề.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, phải khắc phục những khoảng trống trong việc lưu giữ lịch sử Việt Nam từ khi đất nước giành độc lập đến nay, nhất là lịch sử của quá trình kiến thiết, phát triển và biến đổi xã hội; phải hình thành năng lực nhận diện và kiến tạo di sản của tương lai ngay từ khi những giá trị ấy bắt đầu được hình thành.
Đây chính là bước chuyển từ bảo tồn thụ động sang chủ động kiến tạo ký ức quốc gia, trong đó mỗi thế hệ không chỉ tiếp nhận những gì quá khứ để lại, mà còn có trách nhiệm tạo dựng và gìn giữ những giá trị có thể trở thành di sản của đất nước qua hàng trăm, hàng nghìn năm sau.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, phải coi dữ liệu lịch sử, văn hóa và di sản là một bộ phận cốt lõi của hạ tầng văn hóa quốc gia. Thiết lập Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài. Có thể chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát triển dữ liệu, trí tuệ nhân tạo trong bảo vệ, bảo tồn, chuyển hóa giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế để phát triển công nghiệp văn hóa; phải giải quyết ngay bài toán bảo tồn số dài hạn...
Toàn cảnh buổi làm việc
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, trong thời đại trí tuệ nhân tạo, AI sẽ ngày càng tham gia sâu vào việc tìm kiếm, tổng hợp, diễn giải và truyền bá tri thức. Nếu dữ liệu lịch sử, văn hóa của Việt Nam không đầy đủ, không được tổ chức tốt và không do chính chúng ta làm chủ thì về lâu dài, những hệ thống khác có thể trở thành nơi định hình cách thế giới và thậm chí chính người Việt Nam hiểu về lịch sử, văn hóa Việt Nam. Đây là câu chuyện về chủ quyền tri thức, về quyền tự mình tổ chức và kể câu chuyện của dân tộc mình, chứ không chỉ là một dự án chuyển đổi số của ngành văn hóa.
Giá trị của mọi thiết chế bảo tồn và bảo tàng phải được khẳng định ở khả năng phục vụ con người, làm giàu đời sống xã hội và trao truyền giá trị cho các thế hệ tương lai. Thực tiễn cho thấy những bảo tàng có nội dung tốt, cách kể chuyện tốt, không gian tốt và trải nghiệm tốt vẫn có thể thu hút hàng triệu lượt người mỗi năm. Điều đó chứng minh rằng công chúng không xa rời bảo tàng, vấn đề là bảo tàng có thực sự tạo ra giá trị để công chúng tìm đến hay không.
Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh thay mặt Bộ VHTTDL trao tặng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bản phục dựng Trống đồng Đông Sơn
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Bộ VHTTDL phải đổi mới cách đánh giá hiệu quả hoạt động bảo tàng. Bộ Giáo dục và Đào tạo phải phối hợp để đưa bảo tàng trở thành một không gian học tập thường xuyên, bởi lịch sử và văn hóa nếu chỉ được truyền đạt qua sách vở thì khó tạo ra sự gắn bó sâu sắc so với việc được nhìn thấy hiện vật thật, không gian thật và những câu chuyện thật.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, cha ông đã trao lại cho chúng ta một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với một kho tàng lịch sử, ký ức vô cùng quý giá. Trách nhiệm của thế hệ chúng ta không chỉ là giữ nguyên những gì đã nhận được mà phải hiểu sâu hơn, làm giàu thêm và trao lại cho con cháu một nền tảng tri thức, lịch sử và văn hóa đầy đủ hơn. Trách nhiệm của thế hệ hôm nay là kế thừa, phát triển, gìn giữ cho mạch nguồn lịch sử, văn hóa và bản sắc Việt Nam được tiếp nối liên tục, không đứt đoạn qua các thế hệ.