Chuyển đổi số mở rộng không gian phát triển cho văn hóa Việt Nam
Từ số hóa di sản, quản lý bản quyền, hỗ trợ sáng tạo đến điện ảnh, giải trí, triển lãm và hoàn thiện hành lang pháp lý, chuyển đổi số đang từng bước hiện diện trong ngày càng nhiều lĩnh vực của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Không chỉ thay đổi phương thức quản lý, công nghệ còn mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa, tạo thêm không gian sáng tạo, hình thành những phương thức phân phối mới và từng bước đưa dữ liệu trở thành nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10/2026, Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch thực hiện tuyến bài viết với chủ đề Chuyển đổi số mở rộng không gian phát triển văn hoá Việt Nam.
Năm 2026 đánh dấu bước ngoặt về chất trong tiến trình chuyển đổi số của ngành VHTTDL: từ giai đoạn “đưa thông tin lên môi trường số” sang một giai đoạn sâu hơn khi dữ liệu hóa, kết nối, khai thác dữ liệu, ứng dụng AI, phát triển sản phẩm số và hình thành các mô hình giá trị mới.. Bước chuyển này xuất phát từ chiến lược hiện đại hóa hệ sinh thái văn hóa số theo Quyết định 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, đồng thời phản ánh đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh: “Lấy dữ liệu làm nền tảng, chuyển đổi số làm động lực, cải cách hành chính làm khâu đột phá”. Định hướng đó đang từng bước đưa tài nguyên văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội thực sự.
Di sản văn hóa là một trong những lĩnh vực cho thấy rõ nhất sự thay đổi do công nghệ số mang lại. Nếu trước đây số hóa chủ yếu được nhìn nhận như một giải pháp lưu giữ thông tin về hiện vật, di tích hay di sản phi vật thể thì hiện nay dữ liệu số đang dần trở thành công cụ để bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục, quảng bá và tạo ra những trải nghiệm mới cho công chúng.
Trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ VHTTDL đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. Đây là một mục tiêu có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nguồn tài nguyên văn hóa số quy mô quốc gia.
Công nghệ 3D mapping đã được ứng dụng trong những sản phẩm trải nghiệm di sản như “Tinh hoa đạo học” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Một trong những kết quả nổi bật của năm 2026 là việc các cơ sở dữ liệu chuyên ngành bắt đầu được kết nối, đồng bộ với Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Bước đầu, Cơ sở dữ liệu Hiện vật đã đồng bộ hơn 11.100 bản ghi, Cơ sở dữ liệu Di sản văn hóa phi vật thể đồng bộ 80 bản ghi, cùng sự sẵn sàng của hệ thống dữ liệu bảo tàng, di tích. Việc chuẩn hóa này xóa bỏ tình trạng "manh mún, biệt lập" dữ liệu giữa các cơ quan, tạo nền tảng dùng chung cho quản lý, nghiên cứu, giáo dục, du lịch và sáng tạo sản phẩm văn hóa.
Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh.
Từ nền tảng dữ liệu đó, công nghệ đang làm thay đổi toàn diện cách công chúng tiếp cận di sản. Tại các bảo tàng lớn, hệ thống trưng bày 3D (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) hay các trải nghiệm số ứng dụng AI (Bảo tàng Dân tộc học) đã "đánh thức" những bộ sưu tập sau tủ kính thành hành trình khám phá đa giác quan. Đáng chú ý, làn sóng này không chỉ diễn ra ở các thiết chế công lập mà đã lan sang khối tư nhân, tiêu biểu như Bảo tàng Cổ vật Mũi Né (Lâm Đồng) khi bước đầu số hóa hàng chục cổ vật đưa lên không gian mạng.
Không dừng lại ở không gian bảo tàng, công nghệ 3D Mapping tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám với tour đêm "Tinh hoa đạo học", hay trải nghiệm đền Ngọc Sơn với tour "Ngọc Sơn - Đêm huyền bí" tiếp tục chứng minh khả năng "biến" di sản tĩnh thành các sản phẩm du lịch đêm giàu sức hút.
Bức tranh năm 2026 cho thấy, giá trị lớn nhất của chuyển đổi số không chỉ dừng ở số lượng hiện vật được số hóa, mà là khả năng chuyển hóa di sản thành dữ liệu kết nối, khai thác và tái sáng tạo- mở rộng không gian tồn tại của di sản từ đời sống thực lên môi trường số.
Sự phát triển của Internet, nền tảng số, mạng xã hội, AI và các phương thức phân phối nội dung trực tuyến đã tạo ra không gian phát triển chưa từng có cho các ngành công nghiệp văn hóa. Nhưng cùng đó, những thách thức mới được đặt ra về bản quyền khi tác phẩm có thể được sao chép, chỉnh sửa, phân phối và khai thác với tốc độ rất nhanh trên môi trường mạng.
Trong bối cảnh ấy, chuyển đổi số trong lĩnh vực bản quyền không đơn thuần là đưa hồ sơ đăng ký từ giấy lên môi trường điện tử. Yêu cầu sâu hơn là hình thành hệ thống dữ liệu bản quyền có khả năng quản lý, đối soát, kết nối và từng bước hỗ trợ bảo vệ quyền trong môi trường số.
Từ góc độ phát triển công nghiệp văn hóa, bản quyền chính là cơ chế biến sản phẩm sáng tạo thành tài sản có thể khai thác
Một kết quả đáng chú ý trong năm 2026 là Cơ sở dữ liệu Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan đã được triển khai đối soát dữ liệu để phục vụ đồng bộ lên Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Đây là một mắt xích quan trọng trong quá trình xây dựng hệ thống dữ liệu ngành VHTTDL có khả năng liên thông và chia sẻ.
Cùng với đó, Bộ VHTTDL đã công bố các thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ trong lĩnh vực quyền tác giả; Thông tư số 08/2026/TT-BVHTTDL ngày 22/4/2026 quy định các mẫu văn bản trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan cũng được ban hành, góp phần chuẩn hóa quy trình quản lý trong lĩnh vực này.
Ở góc độ rộng hơn, Cục Bản quyền tác giả đã bước đầu triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu bản quyền quốc gia, nghiên cứu hệ thống quản lý, theo dõi vi phạm bản quyền theo thời gian thực và nghiên cứu phát triển các nền tảng giao dịch bản quyền trực tuyến. Đây là hướng đi cho thấy công nghệ đang được đặt vào cả ba khâu "quản lý – bảo vệ – khai thác".
Ý nghĩa của quá trình này càng rõ khi nhìn vào sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa số. Trò chơi điện tử là một ví dụ. Trong năm 2026, Bộ VHTTDL đã đề cập đến vấn đề tăng cường bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực game, từ xử lý trò chơi vi phạm đến kiểm soát các đường dây vận hành game lậu. Công tác bảo vệ bản quyền vì thế không còn chỉ là câu chuyện pháp lý mà trở thành một thành phần của môi trường kinh doanh số.
Từ góc độ phát triển công nghiệp văn hóa, bản quyền chính là cơ chế biến sản phẩm sáng tạo thành tài sản có thể khai thác. Một bộ phim, bài hát, trò chơi, thiết kế, tác phẩm mỹ thuật hay nội dung số khi được bảo vệ quyền đầy đủ sẽ có điều kiện tham gia thị trường, được cấp phép, chuyển nhượng, phân phối và tạo doanh thu. Vì vậy, chuyển đổi số trong lĩnh vực bản quyền đang tạo ra một chuyển dịch quan trọng từ quản lý hồ sơ bản quyền sang quản trị tài sản trí tuệ trong nền kinh tế số.
Đây cũng là lý do bản quyền ngày càng gắn chặt với công nghiệp văn hóa, là "chiếc cầu" biến sản phẩm sáng tạo thành tài sản thương mại.
Những chuyển động trong năm 2026 cho thấy tư duy quản lý đã bắt kịp môi trường số: Chuẩn hóa dữ liệu để bảo vệ và thương mại hóa tối đa các tài sản sáng tạo trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của chuyển đổi số là công nghệ không còn đứng ở "phía sau" làm nhiệm vụ quản lý, mà đã trực tiếp tham gia vào khâu sáng tạo nội dung văn hóa. Sự bùng nổ của AI, công cụ tạo sinh, 3D và các nền tảng phân phối mới đang định hình lại toàn bộ quy trình: từ hình thành ý tưởng, sản xuất cho đến đưa sản phẩm tới công chúng.
Thực tế năm 2026 cho thấy hệ sinh thái sáng tạo số đang hoàn thiện rõ nét. Giải thưởng Sáng tạo Nội dung số Việt Nam 2026 là một ví dụ. Bằng việc đưa vào hạng mục "Ứng dụng AI đột phá trong sản xuất nội dung" cho thấy AI chính thức được công nhận là một năng lực mới trong chuỗi giá trị. Đồng thời, các tọa đàm tại giải thưởng cũng khẳng định nội dung số là trụ cột cốt lõi của ngành công nghiệp văn hóa - nơi sáng tạo gắn chặt với bản quyền, hạ tầng và thị trường xuất khẩu.
Uỷ viên Dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng.
Hay như chương trình Vietnam iContent 2026, được tổ chức dưới sự chỉ đạo của Bộ VHTTDL hướng tới kết nối nhà sáng tạo nội dung, cơ quan quản lý, nền tảng số và doanh nghiệp. Thông qua các chiến dịch như "Sống rực rỡ", với ba hình thức video, ảnh và bài viết, khuyến khích khai thác những câu chuyện về văn hóa, vùng đất, con người Việt Nam và các giá trị tích cực trong đời sống. Công nghệ đã xóa bỏ phương thức truyền tải một chiều, trao quyền cho công chúng trở thành người kể chuyện và lan tỏa giá trị văn hóa trên không gian mạng.
Điểm đáng chú ý khác là sáng tạo số đang bắt đầu được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với công nghiệp văn hóa. Tại lễ trao Giải thưởng Sáng tạo Nội dung số Việt Nam 2026, nội dung số được xác định là một trụ cột quan trọng của công nghiệp văn hóa và công nghiệp sáng tạo.
Tại lễ trao Giải thưởng Sáng tạo Nội dung số Việt Nam 2026, nội dung số được xác định là một trụ cột quan trọng
Như vậy, chuyển đổi số đang làm thay đổi bản chất của hoạt động nghệ thuật: quy trình sáng tạo không còn khép kín mà trở thành chuỗi tương tác, thử nghiệm và hoàn thiện liên tục. Do đó, yêu cầu về nguồn nhân lực cũng thay đổi căn bản- không chỉ đơn thuần là "thành thạo công cụ", mà là khả năng làm chủ công nghệ trên nền tảng tri thức, bản sắc và tư duy thẩm mỹ sâu sắc.
Nếu di sản là nơi công nghệ giúp bảo tồn, bản quyền giúp bảo vệ thành quả sáng tạo, thì công nghiệp văn hóa chính là điểm giao để các yếu tố đó kết hợp tạo ra giá trị kinh tế. Đúng như chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh: "Cần chuyển đổi tư duy từ quản lý theo lĩnh vực sang tư duy phát triển theo chuỗi giá trị". Trong môi trường số, chuỗi giá trị ấy vận hành liên hoàn từ sáng tạo, sản xuất, xác lập bản quyền cho đến phân phối và tiếp cận thị trường.
Để hiện thực hóa chuỗi giá trị này, việc xây dựng hành lang pháp lý chuẩn chỉnh được xem là bước đi mở đường. Năm 2026 đánh dấu bước tiến lớn về thể chế khi yêu cầu chuyển đổi số được đưa trực tiếp vào quá trình xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Dự thảo bước đầu định hình các quy định về hạ tầng văn hóa số, phần mềm sáng tạo, nền tảng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thị trường sản phẩm số.
Trên thực tế, công nghệ đã hiện diện sâu trong các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, thiết kế và thời trang. Bộ VHTTDL cũng xác định các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống, trò chơi điện tử và phần mềm/nội dung số là những lĩnh vực trọng tâm trong phát triển công nghiệp văn hóa.
Ở cấp độ địa phương, điển hình như Huế đang xây dựng kịch bản phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên kinh tế đêm, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, điện ảnh và sáng tạo số- hướng tới mục tiêu đóng góp 10–11% GRDP vào năm 2030.
Sự kết hợp giữa công nghệ và dữ liệu đang giúp công nghiệp văn hóa phá vỡ giới hạn truyền thống: Một di sản có thể chuyển hóa thành nội dung số, từ đó tiếp tục phát triển thành sản phẩm du lịch, điện ảnh, trò chơi điện tử hay giáo dục. Đó chính là bức tranh toàn cảnh về chuỗi giá trị văn hóa trên không gian số.
Trong các lĩnh vực của ngành VHTTDL, giải trí là nơi phản ánh nhanh nhất sự thay đổi trong thói quen tiếp nhận của công chúng. Sự bùng nổ của video ngắn, chương trình tương tác hay các sự kiện trực tiếp đã làm mờ ranh giới giữa người sáng tạo và công chúng, đưa giải trí số vượt khỏi chức năng thư giãn đơn thuần để trở thành công cụ quảng bá văn hóa, di sản và du lịch hiệu quả.
Thực tế năm 2026 cho thấy mô hình sản xuất nội dung giải trí đang chuyển dịch mạnh mẽ sang Kinh tế sáng tạo dựa trên dữ liệu. Từ một ý tưởng gốc có thể dễ dàng phát triển thành chuỗi video ngắn, nội dung mạng xã hội, sản phẩm thương mại hay sự kiện trực tiếp. Dữ liệu hành vi giúp người làm sáng tạo thấu hiểu công chúng, trong khi nền tảng số giúp tối ưu chi phí phân phối và mở rộng thị trường xuyên biên giới.
Những năm gần đây, concert, chương trình giải trí, video ngắn, nội dung mạng xã hội và các sản phẩm tương tác đã tạo nên một không gian văn hóa mới
Các sự kiện như VCA 2026 hay Vietnam iContent 2026 tiếp tục khẳng định giải trí số đã trở thành một phần không thể tách rời của công nghệ và văn hóa- nơi mỗi nội dung tích cực đều góp phần định hình giá trị Việt Nam trên không gian mạng.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành VHTTDL bởi giải trí không còn chỉ là một sản phẩm phục vụ nhu cầu thư giãn. Khi nội dung giải trí được xây dựng trên nền tảng văn hóa, nó có thể đồng thời thực hiện chức năng quảng bá hình ảnh đất nước, giới thiệu di sản, thúc đẩy du lịch và tạo thị trường cho những người làm sáng tạo.
Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh cũng đặt ra những thách thức lớn về bản quyền, tiêu chuẩn nội dung, bảo vệ trẻ em và an toàn số. Vì vậy, thành tựu của chuyển đổi số trong lĩnh vực giải trí không chỉ nằm ở sự bùng nổ của nội dung mới mà còn ở việc từng bước hình thành hệ sinh thái giải trí số có trách nhiệm, có bản quyền và có khả năng tạo giá trị kinh tế - văn hóa.
Trong các ngành nghệ thuật, điện ảnh là lĩnh vực chịu tác động sâu sắc nhất của chuyển đổi số khi công nghệ và AI hiện diện trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ phát triển kịch bản, sản xuất, kỹ xảo cho đến phân phối và tiếp cận khán giả.
Bức tranh điện ảnh năm 2026 ghi nhận những chuyển động quan trọng, đó là thách thức mới về công nghệ và sở hữu trí tuệ. AI đang giải phóng sức sáng tạo ở khâu hậu kỳ, làm phim nhưng cũng đặt ra những bài toán về bản quyền, quyền nghệ sĩ và dữ liệu huấn luyện. Đây chính là chủ đề trung tâm thu hút sự chú ý tại Hội thảo thuộc Liên hoan Phim châu Á Đà Nẵng (DANAFF IV) năm 2026.
Hội thảo “Trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong điện ảnh” trong khuôn khổ Liên hoan Phim châu Á Đà Nẵng lần thứ IV nhận định Điện ảnh là một trong những lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ nhất của công nghệ số
Bên cạnh đó là sự bùng nổ của phim ngắn và phim trực tuyến. Cục Điện ảnh đã siết chặt quản lý bằng yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp phổ biến phim trên không gian mạng thực hiện đầy đủ quy định về phân loại, thông báo danh sách phim và kết quả phân loại thông qua Hệ thống dữ liệu về phân loại phim trên không gian mạng.
Đây là một ví dụ rất rõ cho thấy chuyển đổi số không chỉ mở ra thị trường mới mà đồng thời buộc phương thức quản lý phải thay đổi. Khi phim được đưa lên nền tảng số, cơ chế quản lý cũng phải chuyển từ mô hình chủ yếu dựa vào hoạt động phát hành truyền thống sang quản lý dữ liệu, nền tảng và trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ.
Điện ảnh giờ đây không chỉ là câu chuyện chiếu rạp, mà đã trở thành chuỗi hành vi số liên thông - từ xem trailer, mua vé, thưởng thức phim đến thảo luận trên cộng đồng mạng. Thành tựu lớn nhất năm 2026 vì vậy không chỉ là công nghệ đi sâu vào khâu làm phim, mà là sự chủ động thích ứng của tư duy quản lý trước một thị trường vận hành hoàn toàn trên không gian số.
Vì vậy, thành tựu nổi bật của chuyển đổi số trong điện ảnh năm 2026 không chỉ là công nghệ đã đi vào sản xuất, mà còn là hệ thống quản lý đang bắt đầu thích ứng với một thị trường điện ảnh vận hành ngày càng mạnh trên không gian số.
Trong quá trình chuyển đổi số của lĩnh vực văn hóa, triển lãm và bảo tàng là nơi công chúng có thể nhìn thấy sự thay đổi một cách trực quan nhất. Một triển lãm truyền thống chủ yếu tổ chức hiện vật, hình ảnh và tư liệu trong một không gian vật lý. Với công nghệ số, không gian đó có thể được mở rộng bằng 3D, màn hình tương tác, bản đồ số, thực tế ảo, thực tế tăng cường, thuyết minh số và triển lãm trực tuyến.
Trong quá trình chuyển đổi số của lĩnh vực văn hóa, triển lãm và bảo tàng là nơi công chúng có thể nhìn thấy sự thay đổi một cách trực quan nhất
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là một ví dụ tiêu biểu. Các trưng bày tương tác 3D cho phép người xem quan sát hiện vật từ nhiều góc độ, phóng tới các chi tiết hoa văn và tiếp cận thông tin giải thích, nghiên cứu. Riêng chuyên đề trưng bày ảo 3D về Bảo vật quốc gia đã đưa 20 hiện vật quý hiếm đến với công chúng từ tháng 9/2021. Điểm đáng nói ở đây là công nghệ không thay thế hiện vật. Công nghệ tạo thêm một lớp thông tin và trải nghiệm để người xem hiểu hiện vật sâu hơn.
Trong khi đó, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cũng là một ví dụ về việc ứng dụng công nghệ để mở rộng khả năng tiếp cận. Hệ thống hỗ trợ nhiều ngôn ngữ, trong khi hình thức tham quan trực tuyến, trưng bày ảo và giới thiệu hiện vật trực tuyến giúp bảo tàng tiếp cận những nhóm công chúng không có điều kiện đến trực tiếp.
Một kết quả khác có ý nghĩa lớn nhưng ít được nhìn thấy hơn nằm ở phía sau không gian triển lãm: quản trị dữ liệu hiện vật. Tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, 100% hồ sơ hiện vật đã được quản lý trên phần mềm; trong năm 2026, đơn vị tiếp tục xử lý số hóa 187 hiện vật, tư liệu, bảo quản 529 hiện vật, cập nhật vị trí điện tử cho 354 hiện vật và nâng cấp thư viện số với hơn 350 đầu sách.
Bức tranh tại các bảo tàng cho thấy, chuyển đổi số không dừng lại ở những màn hình tương tác bắt mắt. Giá trị cốt lõi nằm ở việc dữ liệu hóa toàn bộ công tác quản trị hiện vật, qua đó không chỉ bảo tồn di sản mà còn làm cho di sản tiếp tục "sống" và tương tác sinh động với các thế hệ công chúng mới.
Bên cạnh những chuyển động ở từng lĩnh vực, hoàn thiện khung thể chế năm 2026 chính là "xương sống" cho thấy phương thức quản lý nhà nước của ngành VHTTDL đang được tái cấu trúc toàn diện dựa trên dữ liệu.
Trong đó, quyết tâm xóa bỏ các "ốc đảo dữ liệu" được thể hiện qua các bước tiến thể chế căn bản. Đó là, Khung kiến trúc số phiên bản 1.0 (ban hành ngày 26/6/2026) được ban hành. Đây là một trụ cột nền tảng bởi nếu thiếu kiến trúc chung, mỗi lĩnh vực có thể tiếp tục xây dựng những hệ thống riêng, tạo ra các “ốc đảo dữ liệu” khó kết nối. Khi kiến trúc được chuẩn hóa, dữ liệu di sản, bản quyền, bảo tàng, điện ảnh và các lĩnh vực khác có thể từng bước nằm trong cùng một hệ sinh thái.
Hoàn thiện khung pháp chế cho thấy một thay đổi quan trọng khác khi chính phương thức quản lý nhà nước cũng đang được số hóa và tái cấu trúc theo dữ liệu
Một bước tiến khác là Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về Hạ tầng văn hóa số, được Chính phủ ban hành ngày 9/7/2026, lần đầu xác lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho xây dựng, quản lý, vận hành, kết nối và khai thác hạ tầng văn hóa số, trong đó có Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia.
Việc khẩn trương triển khai quán triệt Nghị định 277 vào cuối tháng 9/2026 cho thấy toàn Ngành đã nhanh chóng chuyển từ "ban hành văn bản" sang "tổ chức thực thi".
Trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số cũng đã được đưa vào quá trình xây dựng luật. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tiếp cận theo chuỗi giá trị, đồng thời đặt ra các nội dung liên quan đến hạ tầng văn hóa số, nền tảng hỗ trợ quyền sở hữu trí tuệ, thị trường bản quyền và sản phẩm văn hóa số.
Như vậy, một trong những thành tựu quan trọng của chuyển đổi số năm 2026 không chỉ nằm ở việc ngành có thêm hệ thống, nền tảng hay cơ sở dữ liệu, mà là đã hình thành những thành tố căn bản của một phương thức quản trị ngành dựa trên kiến trúc, dữ liệu và hành lang pháp lý số
Đây chính là bước chuyển dịch mang tính bước ngoặt - từ "số hóa văn hóa" sang "phát triển văn hóa trong môi trường số". Khi đó, di sản trở thành dữ liệu cho giáo dục và sáng tạo; dữ liệu thành nguyên liệu cho công nghiệp văn hóa; bản quyền trở thành lá chắn bảo vệ giá trị; còn thể chế trở thành bệ phóng để các giá trị văn hóa Việt Nam tiếp tục lan tỏa và chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế - xã hội bền vững.