Ảnh minh họa
Thông tư gồm 3 Chương, 9 Điều, quy định chi tiết một số điều và nội dung được giao trong Luật Quảng cáo và Nghị định số 342/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quảng cáo, bao gồm: Khoản 11 Điều 8 Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14, Luật số 42/2024/QH15, Luật số 47/2024/QH15 và Luật số 75/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Quảng cáo) về từ ngữ có ý nghĩa tương tự và tài liệu hợp pháp chứng minh; Điều 9 Luật Quảng cáo quy định về Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo; Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 342/2025/NĐ-CP về hồ sơ, thủ tục xem xét việc tổ chức đoàn người thực hiện quảng cáo.
Thông tư áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động quảng cáo sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc các từ ngữ có ý nghĩa tương tự; việc thẩm định sản phẩm quảng cáo và hồ sơ, thủ tục xem xét việc tổ chức đoàn người thực hiện quảng cáo.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Thông tư là quy định cụ thể về từ ngữ có ý nghĩa tương tự và tài liệu hợp pháp chứng minh trong hoạt động quảng cáo. Theo đó, từ ngữ có ý nghĩa tương tự là các từ, cụm từ bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài khẳng định vị thế dẫn đầu, tính độc bản hoặc tính tuyệt đối của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
Thông tư quy định tài liệu hợp pháp chứng minh có thể là kết quả khảo sát thị trường của tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp, có chức năng nghiên cứu thị trường; hoặc giấy chứng nhận do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp tại các cuộc thi, triển lãm, giải thưởng quy mô toàn quốc, khu vực hoặc quốc tế công nhận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ là “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc các từ ngữ có ý nghĩa tương tự.
Thời gian sử dụng các tài liệu này trên sản phẩm quảng cáo phải phù hợp với thời hạn của giấy chứng nhận hoặc kết quả khảo sát thị trường. Đồng thời, sản phẩm quảng cáo phải thể hiện rõ ràng, chính xác tên tài liệu; số, ký hiệu; thời gian công bố kết quả khảo sát thị trường hoặc thời gian cấp giấy chứng nhận. Các tài liệu chỉ được sử dụng khi bảo đảm tính độc lập, khách quan, trung thực; không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.
Thông tư cũng quy định cụ thể về Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo. Theo đó, Hội đồng do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định thành lập, có số lượng thành viên là số lẻ và ít nhất 5 thành viên, gồm Chủ tịch, Thư ký và các ủy viên. Chủ tịch Hội đồng là đại diện lãnh đạo cơ quan chủ trì tham mưu quản lý nhà nước về quảng cáo ở trung ương. Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo hoạt động theo nguyên tắc tập thể, thảo luận công khai, dân chủ; các thành viên làm việc độc lập, khách quan, trung thực và có quyền bảo lưu ý kiến riêng. Phiên họp của Hội đồng chỉ được tiến hành khi có trên 3/4 số thành viên tham dự, trong đó bắt buộc phải có Chủ tịch Hội đồng.
Đối với yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo, tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi yêu cầu thẩm định đến cơ quan chủ trì tham mưu quản lý nhà nước về quảng cáo ở trung ương theo mẫu quy định kèm theo Thông tư. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan này sẽ thành lập Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo để tổ chức thẩm định và trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành kết luận về sự phù hợp của sản phẩm quảng cáo với quy định pháp luật.
Thông tư cũng quy định chi tiết hồ sơ, thủ tục thông báo tổ chức đoàn người thực hiện quảng cáo. Hồ sơ gồm văn bản thông báo; ma-két, kịch bản hoặc tài liệu thể hiện nội dung, hình thức sản phẩm quảng cáo; bản sao giấy tờ, tài liệu chứng minh điều kiện quảng cáo đối với hoạt động kinh doanh, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật Quảng cáo.
Về hiệu lực thi hành, Thông tư số 12/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực từ ngày 05/7/2026. Đồng thời, một số thông tư và quy định trước đây liên quan đến hoạt động quảng cáo sẽ hết hiệu lực kể từ thời điểm Thông tư này có hiệu lực, trong đó có Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL và một số điều của các Thông tư số 13/2023/TT-BVHTTDL, 21/2025/TT-BVHTTDL và 09/2025/TT-BVHTTDL. Các hồ sơ, thủ tục về quảng cáo đã được tiếp nhận trước ngày Thông tư có hiệu lực sẽ tiếp tục được giải quyết theo quy định của Luật Quảng cáo và Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL./.