Việt Nam trong hành trình hội nhập quốc tế về bản quyền và sở hữu trí tuệ
Hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã luôn tích cực, chủ động hội nhập quốc tế về bản quyền và sở hữu trí tuệ, đặt nội dung này trong mối tương quan chặt chẽ với mạng lưới bảo hộ toàn cầu. Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển, cách mạng công nghiệp 4.0 và trí tuệ nhân tạo (AI) lan tỏa mạnh mẽ, việc bảo vệ cũng như khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ và thương hiệu đã trở thành đòi hỏi tất yếu, giúp các cá nhân, tổ chức khẳng định quyền sở hữu và xác lập lợi thế cạnh tranh bền vững.
Suốt 10 năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, làn sóng chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, hoạt động đổi mới sáng tạo tại Việt Nam diễn ra ngày càng sôi động. Trong suốt quá trình đó, việc nâng cao nhận thức và năng lực khai thác tài sản trí tuệ không chỉ giúp phát huy giá trị các công trình sáng tạo, mà còn tạo động lực thúc đẩy đổi mới công nghệ, gia tăng giá trị thương mại. Khi thành quả lao động được bảo hộ chính đáng, các doanh nghiệp và nhà sáng tạo sẽ yên tâm đầu tư nguồn lực vào nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới, củng cố niềm tin cho sự phát triển lâu dài.
Nhằm thắt chặt kỷ cương trong lĩnh vực này, ngày 30/01/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-TTg về tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Chỉ thị hướng đến mục tiêu ngăn chặn, giảm thiểu tối đa các hành vi vi phạm bản quyền, sản xuất - buôn bán hàng giả, hàng nhái trên cả thị trường truyền thống lẫn không gian mạng; qua đó bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho tác giả, doanh nghiệp, người tiêu dùng và cải thiện môi trường đầu tư. Ngay sau khi Chỉ thị được ban hành, các bộ, ngành đã đồng loạt triển khai các chương trình hành động mạnh mẽ, xử lý nghiêm nhiều vụ việc vi phạm ở quy mô lớn.
Những con số thống kê đã phản ánh rõ nét hiệu quả của công tác thực thi. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các lực lượng chức năng toàn quốc đã phát hiện và xử lý gần 68.000 vụ vi phạm (tăng hơn 36% so với cùng kỳ năm trước). Trong đó, có hơn 5.700 vụ việc liên quan đến hàng giả và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (tăng khoảng 75%). Riêng lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra hơn 21.000 vụ, xử lý gần 20.000 vụ vi phạm, phối hợp với các sàn thương mại điện tử gỡ bỏ hơn 9.000 sản phẩm, chặn trên 2.000 gian hàng có dấu hiệu kinh doanh hàng giả và xử lý hơn 4.500 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Bảo vệ bản quyền trong kỷ nguyên số nâng cao giá trị sáng tạo
Bài toán bảo vệ hệ sinh thái sáng tạo trong kỷ nguyên số
Theo quy định pháp luật, quyền sở hữu trí tuệ bao gồm 3 nhóm chính: quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, và quyền đối với giống cây trồng. Đây là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các tài sản trí tuệ do mình sáng tạo hoặc sở hữu (bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tác phẩm văn học - nghệ thuật - khoa học, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây trồng).
Về bộ máy quản lý, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ trong khi UBND các cấp thực hiện quản lý tại địa phương theo phân cấp thẩm quyền. Riêng đối với lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan, Cục Bản quyền tác giả (thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) là cơ quan hành chính thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước, tổ chức thực thi pháp luật và quản lý các dịch vụ công trên phạm vi cả nước. Tùy theo tính chất và mức độ xâm phạm, các hành vi vi phạm bản quyền có thể bị xử lý dân sự, hành chính hoặc hình sự. Khi cần thiết, cơ quan thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, kiểm soát hàng hóa xuất - nhập khẩu và triển khai các biện pháp ngăn chặn theo đúng quy định.
Thực tế cho thấy, sự bùng nổ của công nghệ, thương mại điện tử và đặc biệt là AI đang khiến các hành vi vi phạm bản quyền trở nên tinh vi, đa dạng, khó kiểm soát và mở rộng quy mô. Hậu quả là gây thiệt hại nghiêm trọng cho doanh nghiệp và nhà sáng tạo, làm suy giảm động lực nghiên cứu, đổi mới, cản trở quá trình thương mại hóa tài sản trí tuệ và ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư.
Do đó, bảo vệ bản quyền chính là bảo vệ thành quả lao động trí tuệ, bảo đảm môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch cho mọi chủ thể. Nhìn rộng hơn, những nỗ lực hội nhập quốc tế về bản quyền của Việt Nam không chỉ mở ra cơ hội kinh tế tại các thị trường lớn, nâng cao vị thế cạnh tranh của tác giả Việt trên trường quốc tế, mà còn thu hút nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất cho ngành công nghiệp sáng tạo, thúc đẩy giao lưu văn hóa, thông tin, công nghệ và giải trí.
Sau cùng, công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả và quyền liên quan nói riêng không thể chỉ dựa vào nỗ lực của các cơ quan chuyên môn, mà đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội. Chỉ khi có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, lực lượng hành pháp, doanh nghiệp và người dân, chúng ta mới có thể xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ hiệu quả tài sản trí tuệ và tạo bệ phóng cho đổi mới sáng tạo bứt phá trong kỷ nguyên số./.