Concert Anh trai vượt ngàn chông gai trở thành hiện tượng xã hội, nhiều tiết mục đặc sắc thu hút hàng triệu lượt xem trên nền tảng số (Ảnh Ban tổ chức)
Bên cạnh sự phấn khởi về một cơ chế tài chính hiệu quả hơn, điều mà giới chuyên môn và những người làm nghề kỳ vọng là từ đây sẽ góp phần hình thành nên thị trường văn hóa đúng nghĩa, nơi các ý tưởng nghệ thuật có cơ hội được nuôi dưỡng, lan tỏa và phát huy giá trị.
Nền công nghiệp văn hóa của quốc gia không thể phát triển bền vững chỉ bằng những khoản hỗ trợ ban đầu. Một bộ phim, một sản phẩm âm nhạc, một không gian nghệ thuật hay một dự án thiết kế chỉ thật sự có sức sống lâu dài khi tìm được công chúng, tạo dựng được thị trường và hình thành vòng tuần hoàn từ sáng tạo, sản xuất, phát hành đến tiêu dùng. Bởi vậy, nếu các quỹ hỗ trợ được xem là “vốn mồi” theo cách gọi của Tiến sĩ Nguyễn Huy Phòng, thì thị trường văn hóa chính là môi trường để những “hạt giống” sáng tạo lớn lên, tiếp tục sinh sôi giá trị và tạo ra động lực phát triển dài hạn.
Nền công nghiệp văn hóa của quốc gia không thể phát triển bền vững chỉ bằng những khoản hỗ trợ ban đầu. Một bộ phim, một sản phẩm âm nhạc, một không gian nghệ thuật hay một dự án thiết kế chỉ thật sự có sức sống lâu dài khi tìm được công chúng, tạo dựng được thị trường và hình thành vòng tuần hoàn từ sáng tạo, sản xuất, phát hành đến tiêu dùng.
Nhiều năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam luôn được nhìn nhận là lĩnh vực giàu tiềm năng, tuy nhiên, khoảng cách từ tiềm năng tới “sức mạnh” thực tế vẫn còn khá xa. Không ít sản phẩm văn hóa Việt Nam được đánh giá cao về chất lượng nhưng gặp khó khăn trong tiếp cận công chúng. Trong khi đó, thị trường tiêu dùng văn hóa trong nước vẫn phát triển chưa tương xứng với quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Dù không muốn song chúng ta buộc phải thừa nhận về sự thiếu đồng bộ của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Thực tế này cho thấy, muốn phát triển công nghiệp văn hóa, việc hỗ trợ nghệ sĩ hay đầu tư cho các dự án riêng lẻ là chưa đủ. Quan trọng hơn là phải xây dựng được một thị trường văn hóa hiện đại, năng động, nơi sản phẩm văn hóa được lưu thông thuận lợi, quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư và người làm nghề có thể sống được bằng chính sức lao động của mình. Tinh thần đó được thể hiện rõ trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025.
Chiến lược xác định phát triển công nghiệp văn hóa trở thành các ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ tăng trưởng cao, tạo giá trị gia tăng lớn, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa trên cơ sở gắn kết sáng tạo, sản xuất, phân phối, phổ biến và tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ văn hóa; phát huy vai trò của khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Mới đây, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam cũng dành sự quan tâm lớn tới việc quảng bá, xúc tiến, phát triển sản phẩm, thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam (Điều 9), thí điểm các mô hình kinh doanh văn hóa mới gắn với nền tảng số: bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số và một số loại thiết chế văn hóa số khác theo quy định của Chính phủ (Khoản 4, Điều 10).
Nhìn rộng hơn, đây không chỉ là sự thay đổi về cơ chế mà phản ánh sự chuyển biến trong tư duy phát triển văn hóa. Văn hóa đang từng bước được đặt trong dòng chảy của kinh tế sáng tạo, đổi mới công nghệ và cạnh tranh thị trường. Đây cũng là con đường mà nhiều quốc gia lựa chọn để biến văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia.
Hàn Quốc thường được nhắc tới như một điển hình thành công của châu Á, nhưng điều làm nên sức lan tỏa của Hallyu không phụ thuộc vào các khoản đầu tư cho điện ảnh hay âm nhạc, mà nhờ một hệ sinh thái đồng bộ từ đào tạo nhân lực, phát triển công nghệ, chiến lược quảng bá tới hệ thống phát hành toàn cầu. Mỗi sản phẩm văn hóa đều được đặt trong chuỗi liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường, từ đó tạo ra giá trị kinh tế lẫn sức ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu.
Trong khi đó, ở Việt Nam, nhiều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa vẫn phát triển theo kiểu tự phát, thiếu liên kết và phụ thuộc nhiều vào nỗ lực cá nhân. Nhiều chuyên gia chỉ ra rằng nguồn lực đầu tư mới chỉ là yếu tố ban đầu, điều mà chúng cần làm là phải xây dựng một môi trường phát triển đồng bộ, thông suốt. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay ở Việt Nam là thiếu thị trường trung gian chuyên nghiệp.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội cho biết: Công nghiệp văn hóa Việt Nam có lợi thế về tài năng và bản sắc, nhưng vẫn thiếu cơ chế đủ mạnh để kết nối sáng tạo với thị trường và hình thành hệ sinh thái phát triển bền vững. Chính sách dù ưu việt đến đâu cũng không thể phát huy tối đa nếu không có một hệ sinh thái sáng tạo đủ mạnh, tức là một mạng lưới kết nối bền vững giữa người làm chính sách, nhà quản lý, hội nghề nghiệp, nghệ sĩ, công chúng, truyền thông và thị trường.
Công nghiệp văn hóa Việt Nam có lợi thế về tài năng và bản sắc, nhưng vẫn thiếu cơ chế đủ mạnh để kết nối sáng tạo với thị trường và hình thành hệ sinh thái phát triển bền vững. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội
Một vấn đề khác cũng đang là tâm điểm của sự chú ý đó là câu chuyện bản quyền trong môi trường số. Công nghệ mở ra cơ hội lớn cho công nghiệp văn hóa, nhưng đồng thời khiến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trở nên khó khăn hơn, làm suy giảm động lực của các nhà đầu tư. Nếu không kịp thời xây dựng được một môi trường thị trường minh bạch, tôn trọng bản quyền, sẽ khó hình thành nền công nghiệp văn hóa đủ mạnh.
Tiến sĩ Nguyễn Huy Phòng phân tích: Công nghiệp văn hóa muốn phát triển phải gắn với việc hình thành thị trường văn hóa lành mạnh và cơ chế khuyến khích đổi mới. Song song đó là trách nhiệm giữ gìn bản sắc dân tộc, tránh xu hướng thương mại hóa cực đoan. Đây cũng là bài toán mà nhiều quốc gia từng đối mặt, bởi khi thị trường phát triển quá nhanh, văn hóa rất dễ bị cuốn vào xu hướng chạy theo thị hiếu ngắn hạn hoặc nội dung giải trí dễ dãi. Vì vậy, vai trò kiến tạo của Nhà nước là trọng yếu. Nhà nước không làm thay thị trường, nhưng cần tạo hành lang pháp lý rõ ràng, cơ chế hỗ trợ đủ mạnh và định hướng phát triển phù hợp để thị trường văn hóa vận hành minh bạch, bài bản.
Thực tế cũng cho thấy, nếu chỉ có thị trường thiếu bản sắc, sản phẩm văn hóa sẽ dễ hòa lẫn và mất khả năng cạnh tranh, nhưng nếu chỉ có bản sắc mà thiếu tư duy thị trường, nhiều giá trị văn hóa sẽ tiếp tục nằm trong phạm vi nhỏ hẹp, khó tạo sức lan tỏa rộng lớn. Công nghiệp văn hóa đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật, công nghệ và tư duy thị trường hiện đại. Thí điểm thành công Quỹ văn hóa, nghệ thuật cùng việc tạo lập thị trường văn hóa chuyên nghiệp sẽ góp phần đưa văn hóa Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới, đóng góp vào sự phát triển của quốc gia.