"Mỏ vàng" doanh thu từ bản quyền số
Sự phát triển của công nghệ đang làm thay đổi căn bản cách sản phẩm văn hóa được tạo ra, phân phối và tiêu dùng. Một ca khúc, bộ phim, cuốn sách, trò chơi hay bức ảnh có thể nhanh chóng tiếp cận hàng triệu người dùng trên toàn cầu. Giá trị của sản phẩm vì thế có thể mở rộng qua nhiều hình thức khai thác trên môi trường số. Đây cũng là nền tảng để công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới.
Tại Hàn Quốc, theo số liệu tham khảo, doanh thu các sản phẩm nội dung số năm 2025 chiếm đến 80% trong tổng doanh thu khoảng 112 tỷ USD của ngành nội dung. Game, nhạc số, phim trực tuyến và webtoon đang trở thành những lĩnh vực tạo doanh thu lớn. Trung Quốc phát triển game trực tuyến, phim ngắn, nhạc số, văn học mạng, hoạt hình; trong khi Mỹ tiếp tục có thế mạnh ở nội dung trực tuyến, game, âm nhạc số, podcast và xuất bản điện tử.
Giá trị của sản phẩm văn hóa có thể mở rộng qua nhiều hình thức khai thác trên môi trường số. Ảnh: Phạm Thắng
Điểm chung của những thị trường này là khả năng biến tài sản trí tuệ thành nhiều sản phẩm, mở rộng vòng đời khai thác và tạo ra nhiều dòng doanh thu trên quy mô lớn. Một ca khúc được khai thác trên nền tảng nghe nhạc, video, quảng cáo, biểu diễn và các sản phẩm phái sinh. Tác phẩm văn học có thể thành sách điện tử, audiobook, phim hoặc trò chơi… Khi đó, bản quyền trở thành “chìa khóa” mở ra nhiều dòng doanh thu khác nhau, mỗi lần sản phẩm được khai thác đều có thể tạo ra giá trị cho chủ sở hữu và những người tham gia chuỗi sáng tạo.
Thực tế tại Việt Nam cho thấy văn hóa số ngày càng phát triển mạnh mẽ. Theo số liệu từ Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), năm 2025 doanh thu tiền sử dụng tác quyền đạt hơn 424,3 tỷ đồng (tăng 8%), trong đó riêng từ website và ứng dụng số đã mang về gần 298 tỷ đồng. Tài sản trí tuệ trên môi trường số đang ngày càng trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng.
Tuy nhiên, bức tranh này chưa phản ánh đầy đủ thị trường bản quyền của công nghiệp văn hóa số Việt Nam. Âm nhạc hiện là lĩnh vực cho thấy khá rõ khả năng chuyển hóa quyền tác giả thành nguồn thu, trong khi ở nhiều lĩnh vực khác như điện ảnh, xuất bản, thiết kế… việc quản lý và khai thác quyền chưa tương xứng với quy mô sáng tạo và mức độ sử dụng trên môi trường số.
Khoảng trống lớn được chỉ ra là hạ tầng quản trị quyền. Một tác phẩm có thể được sao chép, cắt ghép, đăng tải lại và phân phối trên nhiều nền tảng, nhưng việc xác định chủ thể quyền, theo dõi mức độ sử dụng và thu tiền bản quyền vẫn gặp nhiều khó khăn.
Chuyển tư duy “chống xâm phạm” sang quản trị tài sản trí tuệ
Với Việt Nam, phát huy thế mạnh của nền tảng số là yêu cầu then chốt để công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới. Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đặt mục tiêu hiện đại hóa hệ sinh thái văn hóa số quốc gia, đưa văn hóa số trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững. Đề án cũng yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa số: tổ chức sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa trên nền tảng số; phát triển các mô hình kinh tế số trong lĩnh vực văn hóa dựa trên tài nguyên văn hóa số...
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Việt Nam cần đồng thời làm chủ hạ tầng công nghệ, phát triển nguồn nhân lực liên ngành và xác định những lĩnh vực có lợi thế để hình thành sản phẩm văn hóa số có sức cạnh tranh. Trong quá trình phát triển văn hóa số, bản quyền cần được đặt ở vị trí then chốt, bảo đảm giá trị sáng tạo được xác lập, bảo vệ và chuyển hóa thành nguồn thu cho chủ thể quyền.
Nhằm hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam yêu cầu tập trung xây dựng luật về bản quyền tác giả, bên cạnh các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, công nghiệp văn hóa... theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hóa.
Trong quá trình phát triển văn hóa số, bản quyền cần được đặt ở vị trí then chốt. Ảnh: Phạm Thắng
Cùng với hoàn thiện thể chế, năng lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số cũng dần được nâng cao. Theo đó, chuyển từ xử lý từng vụ việc sang xác định và xử lý chủ thể đứng sau hành vi vi phạm, nâng cao khả năng thu thập và lưu giữ chứng cứ số, phát hiện tái phạm và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan và chủ thể liên quan; xác định rõ trách nhiệm của nền tảng, tổ chức trung gian và các chủ thể liên quan. Hiệu quả thực thi cần được đo bằng khả năng bảo vệ quyền trên thực tế, qua đó tạo niềm tin cho người sáng tạo và doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Cùng với đó, dữ liệu và công nghệ phải trở thành một bộ phận của hạ tầng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên số. Mỗi tác phẩm cần được định danh, xác thực chủ thể quyền, ghi nhận quá trình chuyển giao, cấp phép và khai thác. Hệ thống dữ liệu đủ khả năng kết nối giữa cơ quan quản lý, chủ thể quyền, tổ chức đại diện, doanh nghiệp công nghệ và nền tảng số sẽ giúp việc cấp phép, thu và phân phối tiền bản quyền minh bạch hơn, đồng thời hỗ trợ phát hiện vi phạm.
Đặc biệt, chuyển dần từ tư duy chủ yếu “chống xâm phạm” sang quản trị vòng đời của quyền, từ hình thành tài sản, xác lập quyền, cấp phép, khai thác đến thu và phân phối lợi ích. Đây cũng là cơ sở để hình thành thị trường quyền sở hữu trí tuệ minh bạch, tạo điều kiện để người sáng tạo có thu nhập ổn định từ tác phẩm, doanh nghiệp có niềm tin để đầu tư và các nguồn lực sáng tạo của xã hội được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.
Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo cũng đang đặt ra những vấn đề mới đối với bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đòi hỏi chính sách phải chủ động thích ứng. Một trong những yêu cầu quan trọng là minh bạch nguồn dữ liệu, xây dựng cơ chế sử dụng dữ liệu hợp pháp, xác định vai trò đóng góp của con người và trách nhiệm pháp lý của các bên…
Khi bản quyền được tôn trọng, bảo vệ, giá trị của sáng tạo được giữ lại trong chuỗi sản xuất, trả công cho người tạo ra nó và tiếp tục quay trở lại đầu tư cho những sản phẩm mới. Đó cũng là nền tảng để văn hóa số phát triển, góp phần định hình vị thế quốc gia trên bản đồ số toàn cầu.