Ảnh minh họa.
Dữ liệu văn hóa số là dữ liệu số phản ánh sự vật, hiện tượng, sự kiện thuộc lĩnh vực văn hóa và dữ liệu thống kê tổng hợp về mức độ tham gia văn hóa số.
Theo Nghị định, việc xử lý, khai thác và sử dụng dữ liệu văn hóa số phải được thực hiện theo quy định của pháp luật về dữ liệu, pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về tiếp cận thông tin, pháp luật về sở hữu trí tuệ và phải bảo đảm giữ gìn ngữ cảnh văn hóa, không làm sai lệch, xuyên tạc hoặc tách rời dữ liệu khỏi ngữ cảnh văn hóa gắn với dữ liệu. Bên cạnh đó, khuyến khích áp dụng các giải pháp kỹ thuật xác thực như gắn nhãn số, chữ ký số đối với các dữ liệu văn hóa nhằm bảo đảm tính nguyên bản và chống làm giả trên môi trường số.
Trường hợp công nghệ số phát triển cho phép nâng cao chất lượng dữ liệu hoặc xuất hiện yêu cầu mới mà dữ liệu hiện có không đáp ứng được, cơ quan, tổ chức liên quan được thực hiện tái tạo lập hoặc nâng cấp dữ liệu.
Nghị định cũng nêu rõ việc phân loại dữ liệu văn hóa số thực hiện theo quy định của Luật Dữ liệu.
Trường hợp phân loại dữ liệu văn hóa số dựa trên tiêu chí khác thì chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu quyết định trên cơ sở tham chiếu các tiêu chí phân loại sau đây: Dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước; Dữ liệu hạn chế tiếp cận, khai thác và sử dụng; Dữ liệu mở; Dữ liệu mở kèm theo điều kiện xử lý, khai thác và sử dụng cụ thể; Dữ liệu khai thác và sử dụng có thu phí; Dữ liệu khai thác thương mại theo thỏa thuận, hợp đồng thương mại./.